Malaysia

Malaysia là một đất nước nằm ở đông nam Á, nằm một phần ở bán đảo lục địa châu Á và một phần chiếm một phần ba đảo Borneo về hướng bắc. Tây Malaysia giáp với Thái Lan và được nối với nước này bằng một đường nổi, nối với Singapore bằng một cây cầu và có đường bờ biển dọc theo biển Nam Hải và eo biển Malacca. Đông Malaysia giáp với BruneiIndonesia.

Hiểu biết chung

Malaysia có sự pha trộn những đặc điểm của một nước đang phát triển và thế giới hiện đại. Với sự đầu tư vào vào những ngành công nghệ cao và tương đối giàu có về dầu mỏ, Malaysia đã trở thành một nước giàu trong khu vực Đông Nam Á. Đối với hầu hết khách du lịch, Malaysia là một sự kết hợp tuyệt vời của: Cơ sở hạ tầng công nghệ cao và mọi thứ đều hoạt động, làm việc theo đúng lịch trình, giá cả lại hợp lý hơn so với các nước khác trong khu vực, chẳng hạn Singapore.

Lịch sử

Trước sự trỗi dậy của những cường quốc thực dân châu Âu, bán đảo Mã Lai và quần đảo Mã Lai được coi là nhà của những vương quốc như Srivijaya, Majapahit (sau này là Indonesia) và vương quốc hồi giáo Melaka . Vương quốc Srivijaya và Majapahit chứng kiến sự lan rộng của Ấn Độ giáo ở khu vực này và thậm chí cho tới ngày nay, trên danh nghĩa là những tín đồ Hồi giáo nhưng rất nhiều những huyền thoại cũng như là những nét truyền thống về đạo Hindu vẫn còn tồn tại trong văn hóa truyền thống của người Mã Lai. Một sự chuyển biến lớn sang Hồi Giáo đã xảy ra sau khi có sự nhập cư của những thương lái Ả rập đến Mekala.

Điều này đã thay đổi ở thế kỉ thứ 16 khi người Bồ Đào Nha thành lập thuộc địa của châu Âu đầu tiên tại Đông Nam Á bằng cách đánh bại vương quốc hồi giáo Mekala . Tiếp sau đó, Bồ Đào Nha bị Hà Lan cướp mất Malacca. Anh Quốc cũng thiết lập thuộc địa đầu tiên của mình tại bán đảo Mã Lai ở Penang vào năm 1786 khi nó được nhượng lại bởi vua của Kedah. Cuối cùng, Hà Lan và Anh Quốc đã phân chia phạm vi ảnh hưởng của mình tại quần đảo này bẳng việc kí kết hiệp định Anh- Hà Lan vào năm 1824. Với hiệp định này, Hà Lan đồng ý nhượng lại Malacca cho Anh Quốc và đổi lại, Anh sẽ nhượng tất cả thuộc địa của mình ở Sumatra cho Hà Lan. Danh giới phân chia quần đảo Mã Lai thành hai khu vực Anh và Hà Lan này tương ứng là đường biên giới giữa Malaysia và Indonesia ngày nay.

Trước chiến tranh thế giới II, tại bán đảo Mã Lai, Anh Quốc điều hành Liên Minh các bang Mã Lai (Selangor, Perak, Negeri Sembilan và Pahang) như một quốc gia riêng biệt; Các bang Mã Lai không liên minh (gồm Johor, Kedah, Perlis, Terengganu và Kalentan) bị điều khiển như những thuộc địa riêng biệt và Straits Settlements (bao gồm Malacca, Penang, singapore) được coi như những thuộc địa chưa độc lập. Phía bắc của đảo Borneo gồm thuộc địa của Anh- vương quốc Sarawak được cai trị bởi một gia đình người Anh được biết đến với cái tên “White Rajas” (Rajas trắng) và người Anh bảo hộ cho Brunei.

Chiến tranh thế giới II là một thảm họa cho Tổng tư lệnh Anh-Mã Lai (British Malaysan Command). Nhật bản đã càn quét sạch cả hai bờ biển của bán đảo Mã Lai bất chấp sự đấu tranh quyết liệt của Anh. Rất nhiều quân đội Anh đã bị ép buộc phải chiến đấu với Đức ở Châu Âu và những người Anh đang sống ở Malay không thể đối phó với sự càn quét của Nhật Bản. Sự trang bị vũ khí còn lại cho quân đội Anh để phòng thủ Mã Lai đã bị lỗi thời và không có đủ sức chống trả những vũ khí hiện đại mà người Nhật sử dụng. Trong khi đó, chỉ có hai thuyền chiến được đặt ở khu vực này là HMS Prince of Wales và HMS Repulse đã bị chìm bởi bom của Nhật tại bờ biền phía đông của Malay. Trước ngày 31 tháng giêng năm 1942, Người Anh đã hỗ trợ cho Singapore giúp Singapore đánh gục Nhật vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Ở Borneo cũng vậy, Nhật đã bị hạ gục vào ngày mùng 1 tháng 4 năm 1942 sau nhiều tháng chiến đấu ác liệt. Sự chiếm đóng của Nhật Bản ở đây đã gây ra nhiều hành động rất tàn bạo và rất nhiều người đặc biệt là người Trung Quốc đã phải mất đi tính mạng của mình. Những hành động tàn ác tai tiếng nhất của người Nhật là các cuộc hành quân mang tên “cuộc hành quân chết ở Sandakan” , với chỉ 6 người sống sót trong vài ngàn tù nhân tham gia chiến tranh.

Sau chiến tranh thế giới II, Liên minh các bang Mã Lai, các bang Mã Lai không liên minh và những thuộc địa chưa độc lập (Straits Settlements of Malacca và Penang) đã thống
nhất thành lập một thuộc địa của Anh độc lập được gọi là Liên minh Malaysia, với Singapore tách riêng ra để thành lập một thuộc địa tách riêng. Trong Liên minh Malaysia, vua của các bang khác nhau đã nhượng lại tất cả quyền lực của mình cho vương quốc Anh trừ trong lĩnh vực tôn giáo. Tuy nhiên, sự chống lại Liên Minh Mã Lai ngày càng lan rộng khiến cho Anh Quốc phải suy nghĩ lại vị thế của mình, và vào năm 1948, Liên Minh Mã Lai được được thay thế bằng Liên bang Malaya, giữ lại quyền tự trị của những vị vua. Ở Borneo, “White Rajas” nhượng quyền ở Sarawark cho vương quốc Anh vào 1946, biến Anh trở thành vương quốc thuộc địa.

Năm 1957 Malaya dành được độc lập . Biểu tượng nhân vật Union Jack đẵ được hạ xuống và lá cờ đầu tiên của người Mã Lai tung bay trên quảng độc lập (Merdeka Square) vào nửa đêm ngày 31 tháng 8 năm 1957.

Sáu năm sau, Nước Malaysia được thành lập vào ngày 16 tháng 9 năm 1963 qua một cuộc sát nhập giữa Malay và Singapore cũng như là các bang ở Sabah ở phía đông Malay ( Sau này là Bắc của Borneo) và Sarawak ở bờ biến phía bắc của Borneo, nhưng Brunei quyết định không tham gia. Những năm đầu tiên trong lịch sử của quốc gia này đã bị phá hỏng bởi cuộc chạm trán đối đầu với Indonesia (konfrontasi) cũng như là những yêu sách với Sabah từ Philippines. Singapore đã bị trục xuất khỏi liên bang vào ngày mùng 9 tháng 8 năm 1965 sau một vài cuộc bạo loạn đẫm máu, đất nước với dân số chủ yếu là người trung quốc và sự ảnh hưởng của “đảng nhân dân hành động” dẫn đầu bởi ông Lý Quang Diệu (sau này là chủ tịch nước của Singapore) được coi như là mối đe dọa cho sự thống trị của người Mã Lai và do đó nó đã trở thành một đất nước độc lập.

Chính trị

Malaysia là nước quân chủ lập hiến, theo danh nghĩa thì người đứng đầu chính là nguyên thủ quốc gia (Người đứng đầu tối cao- ông Yang di-Pertuan Agong). Nguyên thủ quốc gia được bầu với nhiệm kì năm năm một lần và bầu ra từ những người thừa kế từ chín bang thuộc dòng dõi hoàng gia của Malaysia. Tuy nhiên, trên thực tế cuộc bầu cử không phải hoàn toàn là dân chủ mà có sự can thiệp của những lãnh đạo cấp cao trong chính phủ. Điều này đã tạo nên một hệ thống chính trị riêng có của Malaysia đó là quân chủ luân phiên. Trong chế độ này, mỗi vương quốc hồi giáo sẽ lần lượt làm vua của Malaysia. Ông vua hiện nay của Malaysia là từ vương quốc hồi giáo Kedah, tuyên thệ nhận chức vào ngày 13 tháng 9 năm 2011.

Quốc hôi được xây dựng dựa trên hệ thống quốc hội Anh, bao gồm hai viện. Hạ viện, được gọi là Dewan Rakyat (Nghị viện nhân dân), do người dân bầu lên. Thượng viện, được gọi là Dewan Negara (Hội đồng quốc gia), bao gồm 26 thành viên được chính phủ liên bang bầu ra, mỗi bang có 2 đại diện, những thành viên còn lại được bổ nhiệm bởi nhà vua. Đứng đầu của chính phủ là thủ tướng chính phủ và là người đứng đầu của đảng cầm quyền trong hạ viện. Từ ngày độc lập, Đảng Hiệp hội quốc gia liên hợp Mã Lai (UMNO) và liên minh của nó (National Front) thay nhau cai trị Malaysia.Trong các cuộc bầu cử theo nhiệm kỳ các đảng phái đối lập cạnh tranh với nhau rất quyết liệt . Gần đây, sự cân bằng dần dần bị chuyển đổi về đặc ân của chính phủ, một phần là do sự kiếm soát báo chí và sử dụng về gia hạn quyền lập pháp một cách nghiêm ngặt từ kỉ nguyên thuộc địa.
Trên thực tế, vua chỉ là người đứng đầu trên danh nghĩa mà người có quyền lực nhất trong chính phủ là Thủ tướng chính phủ.

Địa lý

Bán đảo Malaysia gồm:

Tây Malaysia: Bán đảo Mã Lai giáp với Thái Lan và Singapore, được gọi là Tây Malaysia (Malaysia Barat) hay Malaya cổ xưa. Phần lớn dân số của Malaysia sống ở đây, gồm cả thủ đô và thành phố lớn nhất Kuala Lumpur, và nhìn chung là kinh tế khu vực này khá phát triển. Bờ biển phía tây phát triển hơn và tách biệt với vùng bở biển phía Đông-Khu vực nông thôn hơn bằng dãy núi Titiwangsa.

Đông Malaysia: Ở phía bắc đảo Borneo, giáp với Indonesia và Brunei. Một phần Đông Malaysia bị bao phủ bởi rừng rậm, nơi có dịch vụ thám hiểm rừng rậm và săn thú. Đông Malaysia giàu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng khó để phát triển các ngành công nghiệp và du lịch.
Địa hình của Malaysia bao gồm những vùng đồng bằng ven biển, xen kẽ những quả đồi và núi. Đông bằng ven biển có cả ở phía Tây và Đông, tách biệt với nhau bởi một dãy núi tên là Braisan Titiwangsa chạy dọc từ Bắc tới Nam.

Con người

Malaysia là một xã hội đa văn hóa. Người Mã Lai là chủ yếu và chiếm 52%, ngoài ra còn có người Trung Quốc chiếm 27% sống chủ yếu ở thành phố, người Ấn Độ chiếm 9% và 13,5% là nhóm người pha trộn, hoặc người lai, chẳng hạn người dân thị tộc Bồ Đào Nha ở Melaka và 12% là người dân bản xứ gốc (Orang Asli). Do đó, ở Malaysia, mọi người có thể tìm thấy sự đa dạng và phong phú về tín ngưỡng và tôn giáo: Hồi giáo, thiên chúa giáo, phật giáo, lão giáo, Hindu giáo, xích giáo (sự kết hợp của Ấn giáo và Hồi giáo) và thậm chí là saman giáo.

Những ngày nghỉ lễ

Một trong những đặc điểm nổi bật của văn hóa Malaysia là có những lễ hội đa dạng và phong phú, diễn ra quanh năm. Một vài lễ hội mang tính tôn giáo, được tổ chức rất long trọng, trang nghiêm, tuy nhiên cũng có những lễ hôi rất sặc sỡ và mang tính giải trí là chính. Đặc điểm thú vị của những lễ hôi chính ở đây chính là phong tục “mở cửa nhà” tức là tới ngày lễ, người Malaysia mời bạn và những người trong gia đình tới để cùng thưởng thức những cao lương mĩ vị và chia sẻ niềm vui.

Lễ hôi được người dân Malaysia mong đợi nhất là lễ hội của những người Hồi giáo, đáng chú ý nhất đó là những ngày lễ hội tuyệt thực của tháng chay Ramadan. Ở lễ hội này, trong vòng 29 hoặc 30 ngày, những tín đồ trung thành của hồi giáo không cho bất kì đồ vật gì qua môi của họ ( kể cả thức ăn, đồ uống và thuốc lá) từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn. Những phụ nữ mang thai, người đang cho con bú, hoặc những phụ nữ đang trong ngày kinh nguyệt cũng như là những người già, người ốm yếu, hay khách du lịch không được khuyến khích tham gia tuyệt thực. Một vài người vì lí do gì đó không thể tuyệt thực trong những ngày Ramadan có thể thực hiện tuyệt thực vào những ngày sau đó. Trong những ngày này, mọi người dậy sớm trước khi mặt trời mọc để ăn sáng và trở về nhà kịp giờ ăn nhẹ lúc hoàng hôn. Ngày cuối tháng là lễ hội Eid ul- Fir, người dân địa phương thường gọi lễ hội này là Hari Raya Puasa hay Aidilfitri. Thời gian này, người dân địa phương nghỉ làm 2 tuần để “ăn chay” hoặc trở về quê để gặp gia đình, bạn bè. Do đó, những ngày lễ này, hiện tượng tắc đường ở các thành phố lớn như Kuala Lumpur hầu như không xảy ra. Người dân địa phương cũng rất ít đi lại, di chuyển trong những ngày này.
Một lễ hội quan trọng khác của người hồi giáo là Eid ul- Adha, người dân ở đây thường gọi là Hari Raya Haji hay Aidiladha. Chính trong những ngày lễ hội này, những tín đồ hồi giáo hành hương về Mecca. Bò và bê của người dân địa phương được hiến tặng cho thánh đường hồi giáo ở địa phương đó và thịt được phân phát cho tất cả mọi người. Ở vùng nông thôn trong nhưng ngày lễ hội, người dân thường xum họp gia đình. Việc người dân địa phương mặc những trang phục truyền thống và trang điểm lộng lấy trong những lễ hội này là một phần không thể thiếu của văn hóa người Malaysia.

Trong tháng Ramadhan, những người không phải đạo hồi cũng như là khách du lich tuy không phải tuyệt thực nhưng thể hiện sự tôn trọng những tín đồ của đạo hồi bằng cách hạn chế ăn uống ở nơi công cộng. Các trường công cũng giúp những người không phải là tín đồ của đạo hồi hạn chế ăn uống trước mặt các sinh viên là tín đồ của đạo hồi. Rất nhiều nhà hàng đóng cũng đóng cửa để hưởng ứng cho ngày lễ này. Những thương nhân đến Malaysia vào dịp này có thể nhận thấy mọi thứ ở đây diễn ra chậm hơn bình thường. Tuy nhiên, những cửa hàng bán hàng tự thiện ngoài trời trong tháng Ramadhan mọc lên ở mọi nơi để phục vụ khách nước ngoài và đâu đâu cũng tràn ngập những thức ăn ngon. Khách sạn và nhà hàng cũng đóng cửa trong những ngày này để tập trung kinh doanh đồ ăn nhẹ cho những bữa tiệc ngoài trời. Trong tháng Ramadhan, những bữa ăn kiểu như vậy thường được coi là những bữa tiệc lớn.

Những ngày lễ hội quan trọng khác của người dân Malaysia là: Tết nguyên đán của người Trung Quốc (khoảng tháng một, hai), lễ hội Deepavali hay Diwali, lễ hội ánh sáng của người Hindu (khoảng tháng 10, tháng 11), lễ hội phật giáo của người Wesak (tháng 5, tháng 6), và lễ giáng sinh (vào 25 tháng 12).

Trong dịp tết nguyên đán của người Trung Hoa, trước đây lễ hội này được tổ chức to nhất ở Penang và Ipoh bởi vì rất nhiều người Trung Quốc bản xứ sinh sống và làm việc ở Kular Lumpuar đều sinh ra và lớn lên ở đó. Tuy nhiên, gần đây, ngày càng nhiều người Trung Quốc định cư ở Kuala Lumpur hơn và có xu hướng tổ chức tết tại đây. Nếu thăm Malaysia vào những dịp lễ hội này, du khách sẽ được trải nghiệm qua những cảm giác rất tuyệt vời, chỉ có điều trên đường phố rất nhiều những cửa hàng và quán ăn đóng cửa. Tốt nhất, khách du lịch nên tới thăm Malaysia sau một tới hai ngày của lễ hội chính ( Hari Raya hoặc tết nguyên đán) vì khi đó các cửa hàng đã mở cửa và vẫn tận hưởng được không khí lễ hội.

Một lễ hội chính khác nữa đó là Deepavali. Lễ hội này được tổ chức bởi những người Malaysia theo dạo Hindu. Deepavali là lễ hội ánh sáng có nguồn gốc từ xưa của người Ấn Độ và một trong những lễ hội văn hóa chính của người theo dạo Hindu . Ở Malaysia, để đón chào lễ hội này, người Ấn Độ thường mặc trang phục truyền thống của mình và có phong tục nhận phong bao. Dần dần, phong tục tặng phong bao lì xì này được tất cả người dân Malaysia sử dụng bất chấp họ thuộc tôn giáo nào. Ở lễ tết nguyên đán của người Trung Quốc thì gọi là “phong bao đỏ” hay “ang pow” theo tiếng Malaysia, ở lễ hội Hari Raya Aidilfitri thì gọi là “ phong bao xanh” hay “duit raya” theo tiếng Malaysia và” phong bao đa sắc màu” ở lễ hội Deepavali

Một vài lễ hội đặc trưng của riêng có của người Malaysia như là: Lễ hội ngày mùa vào cuối tháng 5 hàng năm, lễ hội “Pesta Gawai” vào đầu tháng 6, cả hai ngày lễ tạ ơn này đều được tổ chức ở Đông Malaysia.

Còn một lễ hội “không thể bỏ qua” đó là lễ hội hành xác- Thaiphsam. Đây là lễ hội của người theo tín đồ hồi giáo Hindu, thường rơi vào tháng 1 hoặc tháng 2. Đám rước lễ hội lớn nhất diễn ra ở Batu Caves, phía bắc Kuala Lumpur. Những tín đồ nam mang những bàn thờ đã được trang trí hay còn gọi là Kavadi thành một đoàn 272 người tiến về phía nhà thờ. Tất cả những tín đồ nam đó đều có giáo mác và móc đan xuyên móc nối với nhau bên ngoài cơ thể. Khả năng này được cho là sự sùng bái của những tín đồ này với thánh và tôn giáo của mình., thay vào đó,các tín đồ nữ hợp thành một đám rước mang trên đầu những bình sữa.

Khí hậu

Malaysia có khí hậu nhiệt đới. Gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 2) thường gây ra mưa và lũ lụt cho đảo Borneo và bờ biển phía Đông. Trong khi bờ biến phía Tây (đặc biệt là Langkawi và Penang) lại không bị ảnh hưởng. Gió mùa Tây Nam nhẹ (từ thang 4 đến tháng 10) thì lại thổi ngược chiều. Những khu vực ở phía Nam của bán đảo Malaysia, gồm cả khu vực quanh năm ẩm ướt Kuala Lumpur, thì có cả hai kiểu gió mùa thậm chí cả vào mùa mưa, hạt mưa có xu hướng nặng hơn nhưng mà chỉ trong chốc lát.

Malaysia khá gần với đường xích đạo nên thời tiết khá nóng. Nhiệt độ nhìn chung ở khoảng 32 độ C hay 89,6 độ F vào buổi trưa và 26 độ C hay 78.8 độ F vào nửa đêm. Tuy
nhiên, giống với hầu hết các nước Đông Nam Á, thường ít có ánh nắng mặt trời vào mùa gió mùa từ tháng 11 đến tháng 2 hàng năm, và nhiệt độ buổi tối xuống thấp nhất vào khoảng 23 độ C/ 73.4 độ F vào những ngày mưa.

Nhiệt độ thường mát mẻ hơn ở trên vùng núi, trung du. Chằng hạn ở Genting Highlands, Cameron Highlands hay Fraser’ Hill , nhiêt độ thường dao động trong khoảng 17 độ C/ 62.6 độ F vào buổi tối và 25 độ C/ 77 độ F vào ban ngày. Đặc biệt, chỉ có núi Kinabalu là có nhiệt độ rơi xuống mức dưới 10 độ C/ 50 độ F

Khu Vực

Tây Malaysia

Bờ Tây
Đây là phần phát triển hơn của bán đảo Malaysia, với các bang Kedah, Malacca, Negeri Sembilan, Penang, Perak, Perlis và Selangor, cũng như là hai lãnh thổ liên bang: Kuala Lumpur và trung tâm hành chính mới Putrajaya, tất cả đều được đặt trong vùng này. Đại bộ phận người dân Trung Quốc sống ở bở Tây.

Bờ Đông
Đây là vùng đất mang tính hồi giáo truyền thống hơn, các đảo ở đây đa số là những đảo nhiệt đới nổi tiếng. Gồm các bang: Kelantan, Pahang, Terengganu.

Phía Nam
Chỉ gồm 1 bang duy nhất, bang Johor, với hai bờ biển và những đồn điền trồng chà là bạt ngàn

Đông Malaysia

Cách khoảng 800k, theo phía đông là Đông Malaysia (Malaysia Timur), chiếm một phần ba về phía bắc của đảo Borneo, giáp với Indonesia và Brunei. Một phần của Đông Malaysia được bao phủ bởi rừng chưa bị khai phá, là nơi lý tưởng cho các nhà mạng đặt các mạng sóng chuyển vùng của mình ( mạng GSM).Đông Malaysia giàu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng công ngành công nghiệp và du lịch lại chưa được phát triển.

Sabah
Nổi tiếng với Lặn ở đảo Sipadan và lặn thám hiểm (“muck diving”- lặn thám hiểm ở những nơi đáy biển thường là bùn, đất, cát..) ở Mabul, đây là mảnh đất với tài nguyên thiên nhiên phong phú, gồm cả cảng Labuan và núi Kinabalu.

Sarawak
Chủ yếu là rừng rậm, vườn quốc gia và các ngôi nhà dài truyền thống.

Thành phố lớn

Kuala Lumpur- thủ đô đa văn hóa, là ngôi nhà của tòa nhà tháp đôi Petronas
George Town- thủ đô về văn hóa và ẩm thực của Penang
Ipoh- thủ đô của Perak với thị trấn thuộc dịa cổ có ý nghĩa lịch sử.
Johor Bahru- thủ đô của Johor và là cửa ngõ sang Singapore
Kuantan- thủ đô của Pahang và là trung tâm thương mại của bờ Đông
Kota Kinabalu-gần với các đảo nhiệt đới, những cánh rừng xum xuê và núi Kinabalu
Kuching- thủ đô của Sarawak
Malacca (Melaka)- thành phố lịch sử của Malaysia với những kiến trúc hình nón
Miri- thành phố nghỉ mát của Sarawak và là cánh cửa tới di sản văn hóa thế giới được Unesco công nhận đó là Vườn quốc gia Mulu Gunung

Điểm đến khác

Cao nguyên Cameron- nổi tiếng về những đồn điền trồng chè

Đồi Fraser’s- kỉ nguyên của những kiến trúc hình nón
Vườn quốc gia Kinabalu- Nhà của núi Kinabalu, ngọn núi cao nhất ở Đông Nam Á
Langkawi- một quần đảo với 99 đảo nhỏ nổi tiếng về những bãi biển tuyệt với, rừng nhiệt đới, núi, với cảnh vật tự nhiên có một không hai. Đây cũng là quần đảo được miễn thuế.
Penang (Pulau Pinang)- trước đây được biết đến như là “Hòn ngọc của viễn Đông”, giờ đây là đảo nhộn nhịp với những chuyến thưởng ngoạn tuyệt hảo bởi nơi đây những di sản về kiến trúc hình nón được lưu giữ lại nhiều hơn bất cứ khu vực nào ở Malaysia
Những hòn đảo Perhentian (Pulau Perhentian) Những viên đá quý lộng lẫy ở ngoài Bờ Đông vẫn chưa được khám phá
Redang (Pulau Redang)- điểm đến tuyệt vời cho những người yêu thích môn lặn
Vườn quốc gia Taman Negara- khu rừng nhiệt đới rộng lớn nối với Kelantan, Pahang và Terengganu
Timoman (Pulau Tioman)- đã từng được mệnh danh là hòn đảo đẹp nhất trên thế giới.

Nhập cảnh

Hầu hết các nước tới Malaysia không cần phải làm visa và có thể được ở 14, 30 hoặc 90 ngày. Số ngày bạn được ở Malaysia sẽ được ghi rõ trên hộ chiếu tùy thuộc bạn ở nước nào. Chi tiết tại http://www.kln.gov.my/web/guest/requirement-for-foreigner.

Sau đây là danh sách các nước tới Malaysia mà không cần visa.

Những quốc gia, vùng lãnh thổ có thể ở Malaysia tới 90 ngày mà không cần visa: Albania, Algeria, Argentina, Australia, Austria, Bahrain, Belarus, Bỉ, Bosnia-Herzegovina, Brazil, Bulgaria, Canada, Croatia, Cuba, Czech Republic, Đan Mạch, Hi Lạp, Phần Lan, Pháp, Ai cập, Hungary, Ai Len, Iran, Ý, Nhật, Jordan, Kuwait, Kyrgyzstan, Latvia, Leabnon, Liechtenstein, Lithuania, Luych Xem Bua, Morocco, Hà Lan, Nui Di Lân, Na Uy, Oman, Peru, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Qatar, Rô Ma Ni, San Marino, Ả rập Saudi, Slivakia, Slovenia, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy sĩ, Syria, Tunisia, Thổ Nhĩ Kì, Turkmenistan, Ả Rập, Mĩ, Anh, Uruway, và Yemen.

Những quốc gia vùng lãnh thổ có thể ở Malaysia tới 30 ngày mà không cần visa: Armenia, Azerbaijan, Bahamas, Barbados, Benin, Bolivia, Botswana, Brunei, Burkina Faso, Cam Pu Chia, Cape Verde, Chad, Chile, Comoros, Congo (Democratic Republic of), Costa Rica, Dominica, Ecuador, El Salvador, Estonia, Fiji, Gabon, Gambia, Georgia, Grenada, Guatemala, Guinea, Haiti, Honduras, Hong Kong SAR, Indonesia, Iraq, Jamaica, Kazakhstan, Kenya, Kiribati, Lào , Lesotho, Macao SAR, Macedonia, Madagascar, Malawi, Maldives, Mauritania, Mauritius, Mexico, Moldova, Monaco, Mongolia, Namibia, Nauru, Nicaragua, North Korea, Palestine, Panama, Papua New Guinea, Paraguay, Philippines, Nga, Samoa, Sao Tome & Principe, Senegal, Seychelles, Singapore, Solomon Islands, Somalia, St Kitts and Nevis, Saint Lucia, St Vincent and the Grenadines, Sudan, Suriname, Swaziland, Đài Loan, Tajikistan, Togo, Tanzania, Thái Lan, Togo, Tonga, Trinidad and Tobago, Tuvalu, Uganda, Ukraine, Vanuatu, Uzbekistan, Vatican City, Venezuela, Vietnam, Zambia and Zimbabwe.

Những quốc gia vùng lãnh thổ có thể ở Malaysia tới 14 ngày mà không cần visa (hoặc có điều kiện khác): Bờ Biển Ngà, Libya, Macao SAR (Travel Permit/Portugal CI), Sierra Leone, Somalia.

Người Việt Nam sang Malaysia có thể ở tối đa là 30 ngày mà không cần visa. Nếu sang Malaysia du lịch, thăm người thân mà ở quá 30 ngày thì có thể xin calling visa. Khi đi xin visa này cần mang theo:

- Tờ khai xin visa
- 2 ảnh 4x6
- Booking ticket- vé máy bay bay một chiều – để xác nhận hoặc là booking khách sạn, nếu là người thân thì người thân có thể gửi email để xác nhận
- Phí làm calling visa: 140k
- Hiệu lực: 3 tháng. Thủ tục làm trong vòng 3 ngày là xong.

Nếu đi sang Malaysia lao động thì phải làm visa. Có hai cách:
1. Xin cấp visa tại đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam hoặc tổng lãnh sứ quán Malaysisa tại Việt Nam
2. Xin cấp visa tại cửa khẩu ở sân bay quốc tế Kuala Lumpur (visa on arrival- visa đến) trong trường hợp lao động được cơ quan nhập cư Malaysia cấp calling visa theo diện cấp visa tại cửa khẩu sân bay quốc tế Kuala Lumpur

Nhìn chung hồ sơ xin visa đi Malaysia lao động hoặc kinh doanh gồm
Tờ khai xin cấp visa (Tờ có sẵn ở Đại sứ quán)
Hộ chiếu ( hộ chiếu còn hạn ít nhất 06 tháng tình đến ngày khởi hành
Giấy tờ chứng minh nghề nghiệp: giấy chứng nhận chức nghiệp hoặc bản sao giấy phép kinh doanh (nếu đi với mục đích kinh doanh)
Ngoài những giấy tờ trên thì cũng có trường hợp yêu cầu nộp thêm các giấy tờ khác tùy từng loại visa.

Sinh viên sang Malaysia học không phải xin Visa mà chỉ cần xin một Letter of Approval (LoA) của Sở di trú Malaysia cấp. Bình thường xin LoA này mất khoảng 2 tháng.
Lưu ý: Cơ quan xuất nhập cảnh Malaysia gần đây đã thực hiện kiểm tra dấu phân tay của khách du lịch đến và rời khỏi Malaysia. Dấu phân tay này giúp họ dễ dàng liên hệ với chính phủ và các tổ chức phi chính phủ của khách du lịch đó.

Ngoài ra, công dân Mỹ tới Malaysia để hoạt động xã hội, kinh doanh hay học tập ( trừ lao động) thì không cần visa.
Tất cả các quốc gia ASEAN ( trừ Myanmar) có thể ở Malaysia tối đa 1 tháng mà không cần visa. Nếu ở quá một tháng thì bạn phải làm visa, trừ Brunei và Singapore.
Visa và giấy thông hành của công dân nước Israel phải được cấp từ bộ nội vụ của nước này. Với những nước Cộng hòa Sebia và Cộng hòa Montenegro, visa không cần sự cho phép của bộ ngoại giao. Những quốc gia khác những nước, bang kể trên (ngoại trừ Israel) được phép vào Malaysia mà không cần visa trong vòng 1 tháng.
Những người hai quốc tịch (hai hộ chiếu) thì việc nhập cảnh vào Malaysia sẽ khá khắt khe. Do đó, tốt nhất bạn nên sử dụng cùng một hộ chiếu khi nhập cảnh và xuất cảnh vào Malaysia.

Hãy cập nhật những tin tức, đặc biệt là thông tin liên quan tới visa ở phòng nhập cảnh của Malaysia: Immigration Department of Malaysia http://www.imi.gov.my/index.php/en hoặc Bộ ngoại giao Malaysia http://www.kln.gov.my/web/guest/home.

Chú ý rằng, Sarawak có luật nhập cảnh riêng và bạn phải lấy visa mới khi tới bang này. Với những người cần visa tới Malaysia, bạn cần một visa mới khi tới bang Sarawak. Do đó, nhớ rõ điều này khi làm thủ tục ở đại sứ quán hoặc lãnh sứ quán Malaysia.

Nếu bạn cần visa tới Malaysia, bạn có thể làm ở đại sứ quán Anh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sứ quán nước bạn cư trú hợp pháp nếu không có quan hệ ngoại giao với nước đó. Ví dụ, đại sứ quán anh ở Belgrade, thành phố Guatemala, Pristina, và Sofia chấp nhận làm thủ tục visa tới Malaysia ( Các nước kể trên không phải là tất cả, chỉ là ví dụ). Làm visa tại cơ quan ngoại giao Anh, bạn sẽ phải mất phí 50 bảng, và nếu chính quyền Malaysia yêu cầu bạn phải chuyển đến cho họ xem xét thì bạn sẽ phải mất thêm phí là 70 bảng nữa. Cơ quan có thẩm quyền ở Malaysia có thể quyết định lấy thêm phí của bạn nếu giải quyết thủ tục cho bạn ngay lập tức.

Ở quá thời hạn: Bạn có thể bị phạt từ $10 tới 30 RM/ một ngày nếu bạn ở quá thời hạn. Để tránh việc ở quá thời hạn, bạn có thể sang nước láng giềng để làm visa bằng đường bộ hoặc bằng chuyến bay giá rẻ.

Đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam
Hà Nội:
Địa chỉ: 43-45 Điện Biên Phủ
Số đt: 37343836. Fax: 37343829
Thời gian làm việc: Thứ 2-Thứ 5: Từ 8h00-12h00 &13h15-16h45; Thứ 6: 8h00-12h30 & 14h15-16h45

Lãnh sự quán Malaysia tại Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 2 Ngô Đức Kế, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Số đt: 38299023, Fax: 38299027

Bằng Máy bay

Hãng hàng không quốc gia Malaysia Airlines (MAS) có mạng lưới các chuyến bay rộng khắp và được đánh giá là hãng hàng không có tiêu chuẩn chất lượng cao. Trong khi đó, hãng hàng không giá rẻ AirAsia và AirAisia X, đã mở rộng điểm đến tới các nước khác nhau gồm Australia, Trung Quốc, Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Macau, New Zealand, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, và Việt Nam.

AirAsia: +60 3 8775- 4000 ( số đường dây nóng, trong nội địa Malaysia: 1-300-88-9933)
Malaysia Airlines: +60 3 7846-3000 ( số đường dây nóng trong nội địa Malaysia: 1-300-88-3000)

Hiện nay, từ Việt Nam, cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có chuyến bay trực tiếp tới Malaysia. Bạn có thể bay trực tiếp trên Vietnam Airlines hoặc Malaysia Airline từ Hà Nội tới Kular Lumpur, hoặc bay trên Singapore Airliness sẽ có một lần chuyển tải tại Singapore. Để bay từ Thành phố Hồ Chí Minh, bạn có thể bay trên Malaysia Airlines, Vietnam Airlines trực tiếp tới Kualar Lumpur hoặc Thai Airways International nhưng sẽ phải chuyển tải một lần tại Bangkok.

Hầu hết các chuyến bay quốc tế đều hạ cánh ở sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA). Những chuyến bay của AirAsia sử dụng điểm đến là LCC: điểm vận chuyển giá rẻ, cách điểm đến chính KLIA khoảng 20km. Trước khi có sân bay KLIA, có sân bay Sultan Abdul Aziz Shah Airport ở Subang gần Kuala Lumpur hoạt động cùng sân bay Firefly và Berjaya: Số điện thoại đặt vé +60 3 7846-8228; +60 3 2145-2828.

Những sân bay khác cũng có những chuyến bay tới những khu vực quan trọng như sân bay Kota Kinabalu (Sabah), Kuching (Sarawak), Penang, Langkawi và Johor Bahru. Rất nhiều thành phố lớn ở Malaysia có những chuyến bay tới Singapore qua hãng AirAsia và Firefly. Hãng Berjaya Air cũng đã có đường bay từ Singapore tới hai địa điểm lặn nổi tiếng ở Tioman và Redang.

Bằng Tàu

Từ/ đến Thái Lan: Dịch vụ tàu đêm trực tiếp của hãng đường sắt Thái Lan ( State Railway of Thailand) kết nối Băng cốc và Butterworth gần Penang (Malaysia). Ngoài ra hãng Keretapi Tanah Melayu ( Hãng đường sắt Malaysia) có tàu chạy từ Hat Yai (Thái Lan) sang Kuala Lumpur (Malaysia). Cả hai chuyến tàu này đều qua cửa khẩu Padang Besar. Tại cửa khẩu sân ga này, thủ tục xuất nhập cảnh giữa Thái Lan và Malaysia được làm rất nhanh chóng và thuận lợi. Mọi người ít khi sử dụng tuyến đường ở Phía Đông từ Hat Yai tới cửa khẩu Sungai Kolok của Thái Lan, do không có tàu chạy thằng tới gần nhà ga Wakaf Bahru ở Malaysia.

Từ/ đến Singapore: Singapore là điểm đến phía Nam của hãng đường sắt Malaysia Keretapi Tanah Melayu. Trên chuyến tàu này, mọi người có thể ngủ đêm rất thoải mái mà đôi khi người ta gọi nhầm với cái tên còn gọi là: tàu “tốc hành” ban ngày. Tàu này chạy từ Singapore tới Kuala Lumpur và Tumpat, gần Kota Bharu. Điều kì lạ là, mua vé ở nhà ga ở Singapore đắt gấp đôi ở Malaysia, do đó, bạn có thể tiết kiệm được chút ít nếu đi tàu từ Johor Bahru. Hoặc bạn có thể mua vé online với giá rẻ hơn nhưng bạn phải đặt trước ít nhất là 48 giờ.

Bằng xe Bus

Những tuyến xe bus đường dài tới Malaysia từ Brunei, Indonesia Borneo, Singapore và Thái Lan. Sau đây là thông tin chi tiết:

Từ Brunei: Không có xe bus trực tiếp tới Brunei.Tuy nhiên, có xe bus từ Miri và Limbang tới biên giới, và từ đây có thể tới được Bandar Seri Begawan.
Từ Indonesia: Có xe bus trực tiếp giữa Pontianak ở West Kalimantan (Indonesia) tới Kuching ở Sawarak (Malaysia)
Từ Singapore: Có rất nhiều hãng có dịch vụ xe bus trực tiếp từ Singapore tới rất nhiều địa điểm ở Malaysia, gồm Malacca, Kuala Lumpur, Penang, East Coast (Bờ Đông), thậm chí ở cả những vùng ngoại ô ven thủ đô Kuala Lumpur như Petaling Jaya, Subang Jaya. Những chuyến xe bus đường ngắn chạy khá thường xuyên từ Singapore tới Johor Bahru, do đó bạn có thể tiết kiệm chút tiền nếu chuyển xe tại điểm chung chuyển JB’s Larkin để đi chuyến xe nội địa rẻ hơn thay vì đi xe trực tiếp đường dài đắt hơn.Từ
Từ Thái Lan: Có một vài công ty cung cấp dịch vụ xe bus từ Kuala Lumpur và các thành phố khác của Malaysia tới Hat Yai ở phía Nam của Thái Lan. Từ đây, có rất nhiều xe bus chạy thẳng từ Băng Cốc tới rất nhiều nơi khác của Thái Lan.

Bằng đường bộ

Bạn có thể tự đi ô tô, xe máy từ miền Nam của Thái Lan và Singapore tới bán đảo Malaysia, cũng như là từ Brunei và Kalimantan (Phía giáp với Indonesia của đảo Borneo) tới Sarawak. Tuy nhiên, bạn phải mang theo giấy phép lái xe quốc tế ( International Drivers Permit: IDP). Cụ thể:

Từ Brunei- Đoạn đường chính ở Sungai Tujoh (Miri, Sarawark, Malaysia) tới Bandar Seri Begawan (Brunei). Điểm kiểm tra Kuala Lumpur- Tedungan thường kiểm tra những xe đi từ Bandar Seri Begawan và Limbang tới Sarawak. Bạn cũng có thể tới huyện Temburong của Brunei bằng xe từ Limbang qua điểm kiểm tra Pandaruan (Puni ở bên phía Brunei) và đi từ Lawas qua Trusan( Labu ở bên phía của Brunei)
Từ Indonesia: Đoạn đường chính là ở điểm kiểm tra Tebedu- Entikong ở trên đường chính Kuching Pontianak. Rất nhiều những đường phụ khác người dân địa phương hay sử dụng, người nước ngoài thường ít biết đến.

Từ Singapore: Có hai đường chính là con đường đắp cao: Causeway nối từ Johor Bahru và vùng rừng núi ở Singapore, và đường thứ hai nối Singapore-Malaysia là nối từ Tanjung Kupang ở Johor với Tuas ở Sigapore.

Từ Thái Lan: Các điểm kiểm tra quốc tế gồm: Wang Kelian (Satun) và Padang Besar (Padang Besar) ở Perlis, Bukit Kayu Hitam (Sadao) ở Kedah, Pengkalan Hulu (Betong) ở Perak Rantau Panjang (Sungai Kolok) ở Kelantan.

Bằng thuyền

Đi bằng thuyền/ tàu thủy, bạn có thể đi từ rất nhiều điểm khác nhau ở bán đảo Malaysia tới Sumatra ở Indonesia hay miền nam của Thái Lan. Bạn cũng có thể đi từ Brunei tới Sarawak, phía Đông Kalimantan ở Indonesia và Mindaonao ở Philippines tới Sabah; Những tàu thủy hạng sang cũng đi từ Singapore và đôi khi đi từ Phuket (Thái Lan) tới Malaysia.

Tử Brunei: Có tàu thủy hàng ngày đi từ Muara Ferry Terminal ở Brunei tới đảo Lanbuan và Lawas ở Sarawak. Hầu như vào buổi sáng, đều có xuồng máy chạy tốc độ cao chạy giữa cầu tàu Bandar Seri Begawan và Limbang ở Sarawak.
Từ Indonesia: Những điểm xuất phát từ Indonesia là đảo Riau ở Batam, Bintan và Karimun; Dumai, Medan và Pekanbaru ở lục địa Sumatra, Nunukan ở Đông Kalimantan. Ở Indonesia cũng có thuyền đi từ Batam tới Batu Pahat và Johor Bahru; thuyền từ Bintan tới Johor Bahru; từ Karimun tới Batu Pahat và Kukup ở Johor; từ Dumai tới Malacca, Muar ở Johor, cảng Dickson ( ở Negeri Sembilan) và cảng Klang, cảng ở Kuala Lumpur; thuyền từ Pekanbaru tới Malacca. Ngoài ra, còn có tàu thủy chạy hàng ngày từ Nunukan tới Tawau ở Sabah. Ở đây cũng có một có một điểm giao nhau phụ giữa Bengkalis ở Riau và Batu Pahat; Từ Sumatra tới Malacca và Muar ở Johor; Từ Tanjung Balai Asahan ở phía bắc Sumatra tới cảng Klang, càng ở Kuala Lumpur.
Từ Philippines: Thuyền chạy từ bán đảo Zamboanga tới Sandakan ở Sabah.
Từ Singapore: Có thuyền hàng ngày chạy từ Changi tới Pengerang, từ Tanah Merah tới khu nghỉ mát Sebana Cover, cũng như là từ Changi tới Tanjung Belungkor, tất cả ở Johor.
Từ Thái Lan: Hàng ngày có 4 thuyền (3 thuyền vào tháng Ramadan) từ Tammalang ở Satun tới Kuah ở Langkawi, Malaysia. Ngoài ra, còn có thuyền chạy từ Ban Taba gần Tak Bai ở tỉnh Narathiwat tới Pengkalan Kubur ở Kelantan, Malaysia. Hành khách cũng có thể đi tàu thủy từ Ban Buketa ở tỉnh Narathiwat và Kubit Bunga ở Kelantan.

Đi bộ

Bạn có thể đi bộ tới, ra khỏi Malaysia sang Thái Lan từ Wang Kelian và Padang Besar, Bukit Kayu Hitam (Kedah), Pengkalan Hulu (Perak), Rantau Panjang (Kelantan). Tuy nhiên, đi bộ băng qua đường cầu nổi trên mặt nước tới Singapore là bất hợp pháp.

Đi lại

Bằng máy bay

Nhờ vào hãng hàng không giá rẻ AirAsia, ở Malaysia có một loạt những chuyến bay giá rẻ chỉ với 9 RM nếu đặt trước. Để đi từ bán đảo Malaysia sang Borneo hoặc một vài địa điểm khác gần Borneo bạn chỉ còn cách đi máy bay. Hãng hàng không quốc gia Malaysia Airlines cũng cũng cấp giá tương đối cạnh tranh và thậm chí còn thấp hơn nếu bạn đặt vé trước qua mạng internet. Chi nhánh của nó là Firefly, trước đây có sẵn mạng lưới vệ tinh ngoài bang Penang, bắt đầu hoạt động từ sân bay Subang (Sultan Abdul Aziz Shah).

Berjaya Air: Dùng máy bay nhỏ với 7 động cơ cánh quạt bay từ Kuala Lumpur và Singapore tới các sân bay của nó ở trên khu nghỉ mát trên đảo ở Pangkor, Redang và Tioman. Giá cả thì đắt kinh khủng (từ 214RM cộng thêm phí đi một chiều). Tuy nhiên, đi máy bay của hãng này nhanh nhất mà thoải mái hơn rất nhiều so với các hãng trước.

Ở Sabah và Sarawak, hãng MASWings cũng cung cấp dịch vụ máy bay chạy bằng động cơ cánh quạt để đi tới những vùng nhỏ, sâu bên trong, chẳng hạn từ Kelabit Highlands tới các thành phố ven biển. MASWings còn đảm nhận mạng lưới dịch vụ bay ở các vùng nông thôn từ FLyAsia Express vào mùng 1/10/2007. 14 tháng trước đây, hãng này nhận đảm nhiệm dịch vụ này từ hãng Malaysia Airlines.

Bằng tàu hỏa

Tàu hỏa chạy đường dài ở Malaysia không thể nhanh bằng so với đi xe trên đường bộ, tuy nhiên hãng Keretapi Tanah Melayu Berhad (KTMB) cung cấp dịch vụ tương đối rẻ và chất lượng khá tốt. Đi bằng tàu này, bạn có thể đi quanh bán đảo Malaysia (trừ Sabah/ Sarawak ở Borneo). Ở phía Tây, có các đường tàu chính là đi từ Butterworth ( gần Penang), Ipoh, Kuala Lumpur tới Johor Bahru; ở phía Đông, có đường tàu chạy từ Gua Musang tới vườn quốc gia Taman Negara, tới Kota Bharu, gần với biên giới giữa Thái lan và và đảo Perhantian.

Niềm tự hào của đội tàu KTMB là ETS (Electric train service: dịch vụ tàu điện) từ Kaula Lumpur tới Ipoh. Dịch vụ tàu điện này có máy điều hòa, chạy với vận tốc 140km/h và thời gian đi chỉ mất hơn 2 tiếng. Những tàu còn lại của hãng, hầu như là chỉ có một đường ray, với đầu tàu chạy bằng diesel, chạy khá chậm và thường xuyên bị hỏng hóc hay bị hoãn. Tàu hạng nhất và hạng hai có điều hòa, hạng 3 thì có quạt. Đối với khách muốn vừa đi tàu vừa ngủ, hãng KTMB có tàu hạng sang Premier Night Delux ( ADNFD- chỉ có đi từ Singapore tới Kuala lumpur). Trên tàu có cabin riêng cho mỗi người, mỗi cabin có hai giường và một toilet, một nhà tắm. Rẻ hơn một chút có xe ô tô ngủ đường dài Superior Night (ADNS). Trên xe ô tô này có giường tầng ở mỗi bên, và mỗi giường có một vách ngăn, và có màn che, khá riêng tư. Ở trên tàu có thể nghe thấy chút tiếng lắc của hành lí nhưng mà ô tô loại này khá là thoải mái và sạch sẽ.

Hãng tàu Jungle Railway- tàu trở khách vào thăm quan rừng- phục vụ cho người dân ở phía Đông giữa Tumpat (gần biên giới Thái) và Gemas. Các điểm dừng của tàu gồm: Gua Musang, Kuala Lipis, Jerantut (để tới Vườn quốc gia Taman Negara) và Wakaf Bahru ( để tới Kota Bharu và quần đảo Perhantian). Tàu “ Jungle train” là tàu chạy chậm, dừng ở mọi nhà ga ( khoảng mỗi 15-20 phút). Đó là xe hạng ba, không có điều hòa và đôi khi một vài chuyến dừng nghỉ khá dài bởi vì chỉ có duy nhất một đường ray, trong khi có khá nhiều xe. Do đó, “Jungle Train” phải đợi ở khu phụ để cho những xe sắp tới và muốn đi tiếp có thể đi được. Có một số khách du lịch khá thích thú với dịch vụ này, tuy nhiên cũng có khách cho rằng không có gì để tham quan trong rừng lắm. Những chuyến tàu tối về phía Đông (nơi có những khu bảo tồn) có giường và ghế hạng hai, một vài tàu hạng nhất có chỗ ngủ

Vé tàu có thể đặt trước, thậm chí có thể đặt vé trực tuyến ở hãng KTMB. Những yêu cầu, thắc mắc và sự đặt chỗ cũng có thể gọi điện thoại tới trung tâm giải đáp thắc mắc của KTMB: +60 3 2267-1200 (Malaysia) hoặc +65 6222-5165 ( Singapore)
Ở Đông Malaysia, chỉ có một đường ray tàu hỏa của hãng Jabatan Kereta Api Negeri Sabah (JKNS) chạy từ Tanjung Aru gần Kota Kinabalu tới thị trấn Tenom.

Bằng xe ô tô

Malaysia có mạng lưới đường quốc lộ rất tuyệt vời, đặc biệt là đường cao tốc Bắc- Nam chạy dọc Bờ Tây từ Singapore tới biên giới với Thái Lan. Xăng, người dân địa phương gọi là
Petrol rẻ hơn chút ít so với giá thị trường, Chỉ ở mức 1,9 RM/ 1 lít (xăng A95) ( ở bán đảo Malaysia, Sabah và Sarawak). Người đi xe phải trả phí đường ở đường cao tốc, nhưng giá có rất nhiều mức độ khác nhau, từ thấp tới cao: Lái xe đi dọc đất nước (734km) từ biên giới Thái Lan tới Singapore phí là 108RM (tương đương với 25usd). Bạn có thể lái xe từ Singapore tới Thái trong vòng 1 ngày ở Bờ Tây, nhưng ở Bờ Đông thì hệ thống đường quốc lộ kém phát triển hơn, và không có đường cao tốc, thậm chí còn không có ở Sabah và Sarawak, do vậy chắc chắn sẽ tốn thêm thời gian khi đi lại ở khu vực này. Phí đường ở đường quốc lộ và đường nổi bên trong những thành phố chính, đặc biệt là ở Kuala lumpur, rất đắt, từ 4 RM tới 7RM cho mỗi điểm thu phí.

Những người thích sử dụng phần mềm định vị toàn cầu( GPS) như (Garmin, Papago, Galactio và Mio-Polnav) có thể tải miễn phí từ http://www.malfreemaps.com/index.php . Người sử dụng phần mềm Garmin còn có thể tải http://www.malsingmaps.com/portal . Các phần mềm bản đồ này đều do nhóm người yêu thích sử dụng bản đồ GPS của Malaysia chia sẻ miễn phí.

Trình độ lái xe của người Malaysia tốt hơn hầu hết các nước ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, khách du lịch thì không cần nhất thiết phải lái xe tốt, đặc biệt là các bạn tới từ các nước phương Tây. Ở Malaysia có thói quen lái xe bên tay trái, giống với Anh. Chú ý, khi tham gia giao thông ở đây, nên thận trọng với những tay lái xe ẩu, đặc biệt là vào ban đêm khi bạn đang đi bộ vì khi đó, họ không thèm xi nhan để rẽ, lúc đó bạn có thể gặp nguy hiểm. Nếu là người lái xe máy, ở đèn giao thông, họ sẽ vượt trước mặt bạn, do vậy hãy để họ đi trước để tránh tai nạn.

Cẩn thận là cần thiết khi lái xe ở các thành phố lớn, ví dụ như Kuala Lumpur và Penang. Ở những thành phố lớn này, vấn đề người lái phóng nhanh vượt ẩu, tắc nghẽn giao thông và tình trạng lộn xộn ở đường phố, đặc biệt là những nơi mà trước đây là thuộc địa cúa Anh, tới giờ vẫn chưa được quy hoạch lại. Tuy nhiên, khi ra khỏi thành phố, thị trấn, xe máy là phương tiện tuyệt vời nhất để bạn có thể khám phá đất nước. Một vài nơi ở những vùng nông thôn có xe máy và xe ga cho thuê chỉ với giá 25RM/ ngày. Đây chính là phương tiện tuyệt vời để khám phá nơi này và những đảo rộng lớn hơn như Langkawi. Như đã nói, để được thuê xe, bạn phải trình bằng lái xe. Xăng sẽ được đo trước và sau khi bạn thuê xe cũng như xem bạn có làm hỏng xe không, và mọi thứ sẽ phải được ghi lại trước khi bạn sử dụng xe. Nếu hỏng bạn phải đền bù thiệt hại và phải trả tiền nhiên liệu. Những công ty cho thuê xe ô tô lớn hơn như Hertz và Avis có thể yêu cầu bạn trình thẻ tín dụng có điều kiện để họ thêm chắc chắn, nhưng không môt khoản tiền nào sẽ bị trừ đi nếu không có hỏng hóc gì.

Taxi luôn sẵn có ở tất cả các thành phố và thị trấn lớn. Ở những nơi nhỏ, hẻo lánh hơn thì bạn phải gọi điện (Hãy hỏi bất kì chủ cửa hàng nào hoặc tham khảo từ Yellow- pages: những trang vàng). Thông thường, bạn nên thương lượng giá trước khi lên taxi mặc dù cũng có vé taxi trả trước sẵn tại các sân bay. Với 5RM bạn có thể đi một chuyến ngắn vòng quay thành phố, 100 RM đủ để bạn thuê taxi cả ngày.

Ở Kuala Lumpur, taxi giá rẻ thường được sơn màu Đỏ và Trắng ( của hãng City taxi- những taxi chỉ đi trong nội thành, không đi sang bang khác) hoặc Vàng. Taxi thường thuộc dạng saloon-car ( xe taxi khép kín, chỗ để hành lí riêng với chỗ ngồi) như Proton Wira và chạy bằng NGV ( ga tự nhiên). Taxi màu xanh thường là kiểu saloon- car lớn hơn hoặc MPVs (Multi Purpose Vehicles: xe nhiều mục đích khác nhau) và sang trọng hơn. Giá của loại taxi này đắt hơn từ 25%-30% so với taxi giá rẻ và thông thường, có rất nhiều taxi ở khắp thành phố Kuala Lumpur, cả ở trung tâm mua sắm lớn và khách sạn. Taxi mà đỏ và trắng bạn có thể gọi ở giữa đường và có đòng hồ đo số km. Hãy chắc rằng người lái taxi là người Malaysia (tất cả người lái taxi phải có giấy phép và bằng phải có ảnh của họ ở đó) trước khi lên xe, bởi có một vài người sở hữu taxi tắc trách cho người nước ngoài thuê taxi của họ và đó là bất hợp pháp. Giống như ở hầu hết các thành phố, người nước ngoài có visa lao động mới được làm việc trong một vài ngành, lĩnh vực cụ thể ghi trong visa. Tất cả người lái taxi phải là người Malaysia hoặc người giữ visa định cư lâu dài( Permanent Resident) bởi vì chính phủ Malaysia không cấp phép visa làm việc cho người nước ngoài ở lĩnh vực taxi. Bạn nên biết điều này khi đi lụ lịch ở Malaysia để có thể tránh được rủi ro.

Ngoài ra, Hãy thận trọng với những taxi không được cấp giấy phép (taxi sapu) ở sân bay. Họ sẽ mời chào bạn ở các sân bay để sử dụng dịch vụ taxi của họ, thậm chí còn giả vờ là một taxi hợp pháp. Là du khách lần đầu tiên tới đây, một vài người đã từng bị “cướp” hàng trăm ringgit khi đi xe lừa đảo kiểu này, tức là đắt hơn 100 lần giá đi taxi bình thường. Ở các sân bay, một chiếc taxi LUÔN LUÔN được gọi từ các bốt điều hành taxi được cấp phép ( operator booths) ở chính tại sân bay đó chứ KHÔNG BAO GIỜ từ những cá nhân tới mời chào bạn trực tiếp như vậy. Khi mời chào, những chiếc taxi kiểu này luôn cam kết đảm bảo chất lượng nhưng thực tế thì chúng rất hiếm khi được an toàn. Các bốt taxi này có cung cấp hóa đơn cho bạn. Hơn nữa, bạn có thể đặt trước. Để đặt taxi kiểu này, bạn có thể nhờ nhân viên khuân đồ ở các khách sạn giúp đỡ bạn việc này.

Bằng xe bus

Đi lại ở Malaysia bằng xe bus là rẻ nhất. Tất cả các thị trấn to nhỏ đều có những điểm chung chuyển xe bus tới các nơi khác. Có rất nhiều công ty khác nhau cung cấp dịch vụ này, nhưng có hai hãng lớn nhất và đáng tin cậy nhất là Transnasional và NICE/Plusliner. Nếu đi đường dài, bạn nên đi loại xe bus “hạng sang” với 24 chỗ ngồi.
Nếu bạn đi du lịch vào ngày nghỉ lễ hoặc thậm chí cuối tuần, tốt nhất nên đặt chỗ trước. Lưu ý rằng điều hòa trên xe bus để rất lạnh, do đó đừng quên mang theo áo khoác mỏng, đặc biệt là khi bạn phải ngủ đêm trên xe bus đường dài.

Nói

Ngôn ngữ chính thức của Malaysia là tiếng Mã Lai (Bahasa Malaysia hay thường gọi là Bahasa Melayu). Tiếng Mã Lai gần giống và có một phần lớn trùng với tiếng Indonesia. Khu vực dân cư của Malaysia sống gần biên giới với Thái, hầu hết là dân vùng Kelantan, nói tiếng địa phương của họ. Tiếng này khác hoàn toàn với tiếng Mã lai chuẩn, mọi người ở khu vực khác hầu như không thể hiểu được, do đó khi giao tiếp với người nói tiếng Mã Lai chuẩn họ cũng phải có phiên dịch, hoặc chuyển sang nói tiếng Mã Lai.

Tiếng Anh là tiếng bắt buộc ở tất cả các trường học và được nói rộng rãi ở các thành phố lớn, cũng như là ở địa điểm thu hút khách du lịch. Tuy nhiên, ở những vùng nông thôn tiếng Mã Lai đôi khi vẫn được sử dụng. Ở thành phố, trong ngôn ngữ nói, tiếng Anh thông tục vẫn được người Malaysia sử dụng, thường được gọi là Manglish, là sự kết hợp của tiếng Anh, Mã Lai và/ hoặc một vài ngôn ngữ khác. Nếu bạn có ý định nói chuyện với người dân bản địa về những chủ đề quanh cuộc sống của họ, bạn cần phải quen với kiểu ngôn ngữ này. Người Malaysia luôn cố gắng nói “tiếng anh chuẩn” khi gặp du khách phương tây. Nhìn chung, ở những đồn cảnh sát và văn phòng chính phủ thì luôn luôn có người đảm nhận về tiếng anh ví dụ như dịch giúp bạn.

Tiếng Ả rập được dạy cho những đứa trẻ có dự định vào học tại trường học tôn giáo, và rất nhiều tu sĩ cũng như là những tín đồ hồi giáo sẽ đảm nhận chức năng dạy tiếng Ả rập. Tuy nhiên, nó không được nói rộng rãi, mặc dù tiếng Mã Lai mượn rất nhiều tiếng Ả rập. Bạn có thể thấy điều này ở văn viết của tiếng Mã Lai và các chữ cái của tiếng Ả rập. Đây gọi là tiếng Jawi và nó được sử dụng để in báo của người hồi giáo và khắc chữ, đặc biệt hay dùng trong những bang mang phong cách bảo thủ như Kelantan, mặc dù ở những nơi khác của đất nước, chữ Latin được sử dụng phổ biến hơn rất nhiều.

Cộng đồng người Trung Quốc ở Malaysia nói nhiều tiếng địa phương Trung Quốc khác nhau, gồm: Cantonese, Mandarin, Teo-chew, Hakka, Hainaese, Hok-chew và Hokkien. Tiếng Mandarin được dạy ở hầu hết các trường học dành cho người Trung Quốc. Tiếng Cantonese được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng bởi vì các kênh truyền hình TVB ở Hồng Kông rất phổ biến với cộng đồng người Trung Quốc. Có rất nhiều người biết cả hai thứ tiếng này và cả tiếng Mã Lai nữa. Ngôn ngữ thông dụng của người Ấn Độ tại Malaysia là tiếng Tamil, ngoài ra còn có tiếng Malayalam, Punjabi và Telugu.

Ở những đảo ở phía Bắc của bán đảo Malaysia chỗ giáp với Thái Lan, có rất nhiều cộng đồng dân tộc người Thái, thường được gọi là Orang Siam và họ nói rất nhiều tiếng địa
phương khác nhau của Thái. Malacca ở miền Nam cũng là nhà của cộng động người Bồ Đào Nha, nói tiếng Bồ gốc Creole (gốc Pháp) Những vùng rừng núi xa xôi của bán đảo Malaysia có rất nhiều bộ tộc khác nhau sinh sống, gọi là Orang Asli, nói tiếng nhiều ngôn ngữ bản địa khác nhau như: Semelai, Temuan và nhiều ngôn ngữ khác nữa. Có một vài ngôn ngữ bản địa khác cũng được nói ở Đông Mlaysia đặc biệt là ở Iban và Kadazan.
Phim và các chương trình tivi được chiếu bằng tiếng của nước phim đó với phụ đề tiếng Mã Lai. Chỉ có những chương trình dành cho trẻ em mới được làm biên tập lại thành tiếng Mã Lai.

Ngắm Cảnh

Ở Malaysia, vườn quốc gia rất đa dạng, phong phú và tuyệt đẹp. Đồng hành với nó, có rất nhiều những loại tour khám phá những khu vườn đó. Nếu bạn chịu bỏ tiền đi những tour như vậy bạn sẽ có trải nghiệm cảm giác tuyệt vời khi được đứngtrong một khu rừng rậm, rộng lớn không có ai khác ngoài một người hướng dẫn viên của mình. Các tour như vậy kéo dài từ 4 ngày tới 2 tuần hoặc có thể nhiều hơn. Không giống với các vườn quốc gia khác bạn tới chỉ để ngắm hổ hoặc voi, khi tới những vườn quốc gia này bạn phải ở không chỉ vài ngày mà ít nhất cũng là một vài tuần để cảm nhận được cảm giác ở những khu rừng rậm này. Tuy nhiên, khi đi trong rừng, bạn sẽ phải gặp một động vật có cực nhiều ở đây đó là: con đỉa. Ở những khu rừng nhiệt đới rất ẩm ướt và không bị oi bức lắm bởi đã được che bởi những những tán lá của các cây trong rừng đan xen vào nhau. Bạn có thể lựa chọn đi khám phá rừng theo cách của bạn. Bạn có thể chọn cách leo núi chỉ để ngắm cảnh và khám phá mà không thích bị ai làm phiền trong vài ngày liền thậm chí một tới vài tuần. Hoặc bạn có thể đi những tour “ trọn gói” đi trong vòng một vài ngày và ở trong khu du lịch sang trọng ở thị trấn chứ không phải là ngủ ở trong rừng.

Nếu không thích ở khu vực nhiệt đới, bạn có thể lên vùng núi, cao nguyên mát hơn ở Tây Malaysia hoặc trèo lên núi Kinabalu ở Sabah.

Malaysia còn nổi tiếng với những bãi biển thiên nhiên nguyên thủy và môn thể thao lặn, chẳng hạn như ở Sipadan ngoài biển Sabah và các đảo ở Perhentian ngoài phía bắc biển Terengganu. Nhìn chung, bờ biển ở đây không bị công nghiệp hóa, là nơi lí tưởng để có thể vừa lặn, vừa khám phá những cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời dưới lòng đại dương. Tuy nhiên, bạn phải thật cẩn trọng, không được lặn, bơi ở những nơi không được bảo vệ, không thì bạn sẽ có thể bị sóng giữ quấn trôi đi.

Nếu bạn đi du lịch cùng với trẻ em và muốn xem vườn thú. Bạn có thể tới một hoặc vài vườn thú lớn và được bảo tồn là vườn thú Taiping, Vườn thú Negara ở Kuala lumpur và vườn thú ở Malacca.

Nếu bạn thích cảm nhận sự sống động của thành phố, hãy tới Kuala lumpur với những tòa nhà trọc trời, đặc biệt với tòa tháp đôi Petronas Twin Towers. Bạn có thể sẽ thích Ipoh hơn nếu bạn là fan của một thành phố yên bình với những kiến trúc hình thanh lịch có từ thời kì thuộc địa 100 năm trước, hoặc Malacca với những dấu tích của lịch sử trang hoàng của thời thuộc địa vài trăm năm trước. Penang thì lại nổi tiếng với những món ăn tuyệt vời của cộng đồng người Trung Quốc và Ấn Độ sống cùng với người Malay và Thái. Để có một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt, hãy tới Kota Bharu cách đấy chỉ vài km để khám phá nét văn hóa độc nhất của người hồi giáo bị ảnh hưởng bởi người Thái Lan, hoặc thăm những thành phố đa văn hóa ở Đông Malaysia như Kuching, Kota Kinabalu.

Hoạt động

Lặn

Malaysia nổi tiếng với trò thể thao: lặn. Những nơi lặn nổi tiếng nhất là ở các đảo ở Bờ Đông của bán đảo Malaysia (Perhantian, Redang, Tioman và rất nhiều nơi khác). Mùa lặn chỉ kéo dài từ tháng 4 tới tháng 9. Địa điểm lặn nổi tiếng nhất- xếp hạng nhất trên thế giới- là ở Sipadan- ở cực đông của đảo Malaysian Borneo. Ngoài ra còn một vài nơi khác như Layang Layang.

Chèo thuyền (Whitewater Rafting)

Bạn có thẻ tìm những chiếc bè, thuyền từ loại I cho tới loại cực kì khó và nguy hiểm – loại V ở rất nhiều vườn quốc gia ở Malaysia.

Jeram Besu – Loại I-III - Pahang
Sông Telom River – Loại V - Pahang
Kuala Perahu - Pahang
Sông Lipis - Pahang
Sông Anak Jelai – Loại I-II - Pahang
Sông Tembeling – Loại I-II - Pahang
Sông Sedim – Loại III-IV - Kedah
Sungai Selangor – Loại I-III - Selangor
Sông Kiulu – Loại II - Sabah
Sông Padas – Loại III-IV - Sabah
Sungai Itek (Sông Kampar) – Loại I-III - Perak
Sông Sungkai – Loại I-II - Perak
Sông Singoh – Loại V - Perak
Sông Endau - Johor
Sông Nenggiri – Loại I-III Kelantan
Kuala Kubu Bahru, Selangor

Mua bán

Tiền tệ của Malaysia là ringgit, thường thường được biết đến là đô la ( kí hiệu $ chỉ được sử dụng ở những đồng tiền cũ) được viết tắt là RM hay MYR, được chia làm từng 100 sen. Đồng xu thì gồm những mệnh giá 5,10, 20 và 50 sen. Tiền giấy thì gồm những mệnh giá 1, 2 (hiếm), 5, 10, 50, 100. Những đồng xu 5 sen chủ yếu được dùng như tiền lẻ để đổi ở trong những cơ sở kinh doanh và siêu thị, những người bán rong thì họ có thể từ chối nhận chúng. Chú ý rằng đô la Singapore và Brunei cũng được gọi là ringgit ở Malay, do đó tại những khu vực gần biên giới thì bạn phải kiếm tra lại xem hàng hóa họ niêm yết giá bằng loại tiền tệ của nước nào.

Đồng ringgit đổi thành đồng đô la ở đây khá dễ dàng. Tuy nhiên, tiền nước ngoài lại gần như không được chấp nhận ở đây. Do đó, bạn có thể phải đi khá xa để có thể đổi được Euro và US đô la và thậm chí còn phải nài nỉ họ. Chỉ có đô la Singapore là ngoại lệ. Hầu hết các chạm thu phí cầu và nhà cung cấp dịch vụ đi lại KTMB (Keretapi Tanah Melayu Berhad ) đều nhận tiền singapore đô la này nhưng với tỉ lệ rất thiệt thòi 1:1 (Đây là tỉ lệ mà có từ thời mà đồng ringgit có thể trao đổi với đồng đô la Singapore trước những năm 1970)

Ngân hàng và các cảng biển cũng là những nơi lí tưởng để đổi tiền trong lúc khẩn cấp. Nếu bạn muốn đổi tiền với tỉ lệ lời nhất thì hãy tìm những người được cấp phép đổi tiền ở những trung tâm thương mại lớn. Hãy nói với họ bạn muốn đổi bao nhiêu tiền sau đó bạn có thể mặc cả để có thể được lời hơn so với giá niêm yết, đặc biệt nếu bạn đổi một lượng lớn.

ATMs được sử dụng khá rộng rãi ở các thành phố, tuy nhiên nếu bạn vào các đảo nhỏ hay rừng rậm thì nhớ dự trữ tiền mặt. Thẻ tín dụng có thể được sử dụng ở hầu hết các cửa hàng, nhà hàng, khách sạn mặc dù đôi khi bạn có thể bị bịp nhưng trường hợp này rất ít khi sảy ra.

Ngân hàng

Ngân hàng ở Malaysia giải quyết những giao dịch quốc tế. Nó bao gồm từ phí danh nghĩa nếu bạn là chủ một tài khoản cho tới một khoản phí đắt hơn chút ít nếu bạn chỉ sử dụng những dịch vụ của ngân hàng. Những ngân hàng quốc tế như Citibank va HSBC đã có mặt tại Malaysia. HSBC còn có chi nhánh ở khắp cả nước. Những ngân hàng trong nước lớn MAYBANK và CIMB. Hai ngân hàng này linh động hơn so với hai ngân hàng Citibank và HSBC đặc biệt là về giá, sự am hiểu tâm lý của người dân địa phương, kể cả những dịch vụ quốc tế như chuyển tiền quốc tế. Nếu bạn tới ngân hàng yêu cầu gì hoặc giao dịch gì, bạn chỉ cần lấy số của mình, ngồi xuống ở phòng điều hòa rất thoải mái và đợi tới lượt mình( không cần phải đứng xếp hàng).

Các ngân hàng mở cửa từ thứ hai tới thứ 6 từ 9h30 sáng tới 4h chiều. Một vài ngân hàng mở them vào sang thứ 7 từ 9h30 đến 11h30 trừ thứ 7 đầu tiên và thứ ba của tháng. Ở các bang Kedah, Kelantan, Terengganu, các ngân hàng thường mở từ thứ 7 cho tới thứ 4 từ 9h30 sáng đến 4h chiều; thứ 5 từ 9h30 sáng đến 11h30 chiều.

Thẻ ghi nợ của Mỹ: do tỉ lệ gian lận cao, rất nhiều cây ATMs của Malaysia không cho phép bạn sử dụng thẻ ghi nợ của Mỹ để rút tiền. Rất nhiều khách du lịch đã phải lưu ý điều này trên diễn đàn của họ để mọi người tránh. Điều này chỉ riêng Malaysia cấm còn ở các nước khác như Thái Lan, Sigapore hay Indonesia thì bạn có thể dung thẻ ghi nợ cua Mỹ thoải mái. Nếu bạn gọi cho ngân hàng của mình tại nước nhà, thì họ cũng sẽ không thể giải quyết được cho bạn vì ngân hàng Malaysia đã từ chối giao dịch. Do đó, Hãy mang theo tiền mặt hoặc tiền dưới dạng khác để đề phòng trong trường hợp thẻ ghi nợ của bạn bị từ chối giao dịch.

Giá cả

Hầu hết khách du lịch đều nhận thấy chi phí ở Malaysia khá rẻ, mặc dù đắt hơn những nước hàng xóm như Thái Lan và Indonesia. Bạn có thể sống ở những nhà nghỉ và ăn ở những quán ven đường với ít hơn 50 RM một ngày, tuy nhiên nếu bạn thích ở và ăn uống thoái mái hơn thì bạn có thể sẽ phải chi gấp đôi, đặc biệt khi bạn đi du lịch ở những nơi đắt hơn như Đông Malaysia. Kuala Lumpur nhìn chung là đắt hơn so với các thành phố khác. Vào cuối mùa du lịch thì những khách sạn sang trọng và cả vé máy bay tương đối vừa tiền và thậm chí khách sạn 5 sao giá cũng chỉ 400 RM một đêm.

Ở Malaysia không có thói quen để tiền típ. Tuy nhiên, người mang vác hành lí ở khách sạn hay người lái taxi thường được nhận một khoản tiền típ nhỏ nếu bạn được phục vụ những dịch vụ hạng nhất. Những nhà hàng, quán bar, khách sạn đắt nhất thường niêm yết giá của mình dưới dạng RM19++, có nghĩa là thuế (6%) và tiền dịch vụ (10%) sẽ được cộng luôn vào hóa đơn. Thuế của khách sạn là 5% cũng có thể được cộng vào hóa đơn này.

Mua sắm

Kuala lumpur là địa điểm mua sắm cho rất nhiều mặt hàng từ quần áo, đồ điện tử, đồng hồ, máy tính và nhiều hàng hóa khác với giá cả khá là hợp lý. Có hai thương hiệu khá nổi tiếng của người Malaysia là Royal Selangor và British India. Vải lụa truyền thống của người Malaysia cũng được mua làm quà lưu niệm khá phổ biến khi đến thăm Malaysia. Nơi rẻ nhất và dễ dàng mua những món quà lưu niệm truyền thống ở Malaysia( đặc biệt là những đồ làm bằng gỗ) là ở Kuching, Đông Malaysia, và nơi đắt nhất là ở trung tâm thương mại Kuala Lumpur.

Thông thường, ở các thành phố lớn, các cửa hàng mở cửa từ 10h30 sáng tới 9h30 tối (hoặc 10h tối). Ở những vùng nông thôn hay thị trấn nhỏ thì họ thường mở của và đóng sớm hơn.

Nếu bạn mua quá nhiều đồ khi đi shopping ở Malaysia (điều này rất thường xảy ra) thì bạn đừng lo vì phí gửi qua đường bưu điện khá rẻ. Nếu số hành lí của bạn vượt quá số cân cho phép thì bạn phải trả thêm khoản tiền phí khá cao nhưng mà không cao so với các nước khác. Hãy gọi để kiểm tra số hành lý tối đa được mang với hãng hàng không của bạn trước nhé.

Ăn

Người Malaysia rất tự hào về phong cách ẩm thực của mình. Ở hầu hết các thị trấn thậm chí ở những ngồi làng nhỏ cũng có những món ăn đặt trưng. Ví dụ như ở Penang có char kway teow, ở Kajiang có satay, ở Ipoh có món gà sào hạt đậu (bean sprout chicken), ở Sarawak có laksa, ở Kelantanese có nasi dagang, Sabahan có hinava, và rất nhiều những món ăn đặc trưng khác. Hầu hết những món ăn này đều chỉ được truyền miệng và thường không dễ dàng cho bạn bắt gặp những quán ăn loại này. Do đó, nếu muốn thử, bạn hãy hỏi những người dân bản xứ ở đây để xin lời khuyên về cách nấu những món ăn này.

Nếu bạn dự định đi du lịch quanh Malaysia để thử các món ăn địa phương, đừng dại gì đề cập tới tên món ăn. Đôi khi hai món ăn hoàn toàn khác biệt từ hai vùng khác nhau có thể có cùng tên. Ví dụ, ở cả Penang và Sarawak, món ăn tên “laksa” là món ăn được làm từ hai loại mì hoàn toàn khác nhau .

Nhìn chung, bạn có thể ăn rất nhiều loại món khác nhau ở bất cứ nơi đâu ở Malaysia. Những quán ăn tương đối sạch sẽ. Chỉ có duy nhất một điều bạn nên tránh đó là đá dùng để uống nước khi bạn đi trên đường hoặc ở những quán ven đường bởi vì những khối đá được sử dụng ở đây có thể không đạt tiêu chuẩn về độ sạch. Ở những nhà hàng thì bạn sẽ không phải lo về vấn đề này. Bạn cũng nên tránh gọi nước từ những quán ven đường hoặc những nhà hàng nhỏ bởi vì nước ở đây thường là nước chưa được đun sôi.

Những nơi mà món ăn rẻ hơn thì thường là không đề giá, hầu hết họ sẽ đòi tiền bạn một cách trung thực. Tuy nhiên, hãy hỏi giá trước khi gọi món để cho chắc chắn.

Thói quen ăn uống ở đây đã bao gồm toàn bộ, tuy nhiên hầu hết thức ăn đều được dùng bằng dĩa và thìa: hay để tay trái cầm dĩa để cắt thức ăn và tay phải cầm thìa để ăn.

Ăn uống là sở trường của người dân Malaysia, hầu hết mọi người đều sử dụng đũa ăn một cách rất chuyên nghiệp bất kể họ thuộc chủng tộc nào. Mì và những món ăn trung quốc đều sử dụng đũa để ăn, trong khi những món ăn Malay và Ấn Độ có thể được ăn bằng tay, tuy nhiên không ai sẽ ngạc nhiên nếu bạn yêu cầu một chiếc dĩa và chiếc thìa để ăn thay vì dùng đũa. Nếu ăn bằng tay, mọi người luôn luôn sử dụng tay phải để lấy thức ăn bởi vì người Malay và Ấn Độ có truyền thống sử dụng tay trái để làm những việc liên quan tới bẩn như là rửa sau khi đi ra từ nhà vệ sinh. Khi ăn bằng đũa ở nhà hàng Trung Quốc, bạn nên lưu ý cách dùng đũa và đặc quan trọng nhất là không được cắm đôi đũa dựng đứng ở trong bát cơm. Bởi nó làm mọi người liên tưởng tới những nén nhang đốt ở trong đền và tới cái chết. Nếu ăn theo nhóm, thường thường mọi người sẽ ăn chung thức ăn, tuy nhiên bát canh và cơm thì riêng.

Những món ăn đặc trưng của địa phương

Ẩm thực Mã Lai

Người Mã Lai là những người dân có gốc Malaysia, kể cả Orang Asli. Vẻ đẹp bề ngoài không phải là ưu tiên số một trong cách nấu ăn của người Mã Lai mà là ở :cách cho gia vị (những gia vị quan trọng nhất là: hồi hương, cây quế, bạch đậu khấu và đinh hương- được gọi là rempah empat beradik hay 4 vị đồng hành với nhau), những củ vị cay làm gia vị (chủ yếu là giềng, gừng, nghệ), nước cốt dừa, và một vài cây gia vị khác (cây xả, rau mùi, lá của một loại dứa và rất nhiều những cây thảo dược khác). Hầu hết các món ăn kiểu Mã Lai đều nấu kiểu cà ri, hầm, hoặc nhúng vào một loại khác nhưng có đủ các loại hương vị.

Nasi lemak (“cơm dừa”) là món ăn sáng đặc trưng của người Mã Lai, thành phần gồm cơm nấu chín, sau đó cho thêm nước cốt dừa, cá khô, cây đậu lạc, những lát dưa chuột và một ớt ở bên cạnh. Một cách sáng tạo là, cá khô được nấu với ớt và gia vị để làm “cá khô sốt” (sambal tumis ikan bilis), nó dễ chế biến và có thể được để tách rời với cơm. Do đó, người kinh doanh món ăn này có thể tiết kiệm được bởi cá khô giữ được rất lâu. Thông thường, món ăn này sẽ được ăn cùng với một miếng cá to hoặc một chiếc cánh gà. Nó còn được ăn với nước cà ri hoặc sambal.

Rendang, đôi khi được gọi là “cà ri khô” (dry curry), là món mà thịt được hầm trong nhiều giờ với một loạt những gia vị phức tạp (nhưng hiếm khi có vị cay nồng) cho tới khi hầu như hết nước, trở thành sốt sền sệt. Rendang bò là phổ biến nhất, mặc dù giờ đây người ta có thể thay bằng thịt gà và thịt cừu.
Sambal là thuật ngữ chung dùng để chỉ các loại nước sốt tương ớt. Sambal belacan là gia vị thông thường được làm từ ớt và tôm để tạo ra sốt belancan. Món nổi tiếng nhất là sambal sotong gồm mực (sotong) nấu với nước sốt tương ớt. Sambal ikan bilis là đồ hay ăn cùng với cơm trong món nasi lemak, thành phần của nó gồm cá khô, hành tây, ớt và đường.

Satay là món thịt xiên nướng, thường là gà hoặc bò. Cái để bạn có thể phân biệt satay và thịt nướng thông thường là nó được nhúng trong nước sốt được làm từ đậu tương có vị hơi cay.

Kangkung belacan là một loại nước rau bina chiên đun trong nước sốt (belacan) và ớt, hạt tiêu.
Mee rebus là món mì tôm trứng ăn với nước đun từ khoai lang hơi cay và ngọt, thường ăn với trứng luộc kĩ và một ít chanh
Lontong là món gồm rau, đậu lên men và soohoon được nấu với nhau trong nước sốt dừa màu vàng (từ nghệ), được ăn với cơm nắm (nasi himpit)- một trong rất ít những món ăn chay trong ẩm thực Malaysia

Ẩm thực Peranakan/Nonya

Món ăn mang đậm bản sắc của khu vực này là Peranakan hay Nonya, được sinh ra từ sự kết hợp của cộng đồng người Malay và Trung Quốc một thời từng là thuộc địa của Anh ở eo biển Settlements tạo thành ( hiện nay là Singapore, Penang và Malacca)

Ayma pongteh là một món ăn làm từ gà với nước đậu tương lên men, nước tương, đường và một số thành phần khác. Món ăn dịu ngọt này được làm hàng ngày ở những gia đình ở Nyonya.

Ayam Buah Keluak là món ăn khá khác biệt với thành phần chính là gà kết hợp với những hạt đen từ cây Pangium Edule (cây kepayang) để tạo thành một nước sốt phong phú.
Chili crab (cua sốt tướng ớt) là một món ăn đặc biệt của bắt nguồn từ Malaysia, nhưng hiện tại có cả ở Singapore. Món ăn này để hẳn cả con cua với rất nhiều nước sốt sền sệt mùi vị cực thơm. Món này nổi tiếng là khó ăn nhưng mà cực kì ngon tới mức bạn sẽ không thể cưỡng lại được. Nếu bạn muốn ăn món này nhưng sợ ăn cay, bạn có thể gọi món gần giống là Black pepper crab (cua sốt hạt tiêu đen)

Enche Kabin là món ăn gồm gà rán ngâm với nước tương, ngũ vị hương, hạt tiêu đen, gừng và hành ta

Itek Tim là một loại súp chứa thịt vịt, cà chua, hạt tiêu xanh, dưa cà, mận chua được ngâm được nấu với nhau.

Kaya là một thức ăn giống như một loại mứt làm từ trứng và dừa, vị một sự kết hợp khác kì quặc nhưng đầy hương vị.

Laska là món ăn ở Malaysia có rất nhiều phong cách khác nhau, và mỗi bang đều có một phong cách nấu món này riêng. Laska lemak là món mì nấu trong canh cà ri có nước cốt dừa với hương vị rất thơm, phía trên có sò hoặc tôm. Trong khi đó, món assan laska ở Penang thì làm từ canh chua me chứ không phải là nước cốt dừa, có vị chua cay. Ngoài ra còn có laksam của người Kalantanese, là một bát mì gạo lớn và canh nấu từ nước cốt dừa.

Mee siam: là món mì kết hợp với nước sốt có vị chua làm từ me, tôm khô, và hạt đậu được lên men. Món này thường ăn với đậu phụ và trứng luộc kĩ.

Popiah hay nem tươi hoặc nem rán. Món này gồm củ cải chín, đậu phụ rán, cây hẹ tây rán, tỏi, trứng cuộn thái miếng, hạt đậu dài và nước tương ớt, gói ở trong một vỏ một bánh đa nem và giống như món fajiata.

Rojak có nghĩa là sự kết hợp của tất cả mọi thứ ở Malaysia, và có hai loại rất khác nhau. Rojak trung quốc là một loại sa lát gồm dứa, củ cải trắng, dưa chuột, đậu phụ rán miếng, và một vài nụ hoa gừng thái nhỏ (bunga kantan). Khi ăn món này, chấm vào nước sốt tôm với đường, sau đó rắc thêm một ít đậu phộng nhỏ. Rojak Ấn Độ thì lại chủ yếu làm từ thịt tẩm bột chiên giòn với dưa chuột và đậu phụ và nước sốt đậu tương.

Acar (achar) là một món ăn trong đó có rau và quả thái lát ( gồm dưa chuột, cà rốt và dứa), chộn với dấm, ớt, đậu. Món này không hăng và cay như dưa chua của Ấn Đọ nhưng có tên gần giống.

Sup kamping là một loại súp thịt cừu từ từ hầm với các loại gia vị thơm, và được bày với hẹ tây và rau mùi tươi.

Keropok lelok, một món ăn đặc biệt của bang Terengganu- vùng thuộc bờ biến phía đông của bán đảo Malaysia. Đây là một loại bánh có vị thơm ngon làm từ bột nhão và cá thái nhỏ. Trước khi ăn, người ta thái lát và rán lên rùi chấm với nước sốt nóng.

Tempoyak là một loại nước sầu riêng đã lên men, được dùng làm đồ ăn kèm trong bữa chính.

Món ăn khai vị của người Mã Lai, đặc biệt là bột làm bánh ngọt, hầu như đều có vị ngọt từ dừa và cọ (gọi là gula mekala). Kuih (hay còn gọi là Kueh) thường chỉ đến một loại bánh ngọt, chủ yếu làm từ sữa dừa, thịt đun với dừa, gạo nếp hay bột sắn hột. Để làm nó thường rất tốn công sức và nó có màu sắc rất đẹp (màu tự nhiên hoặc màu từ màu tổng hợp), bánh làm xong thường được cắt làm những miếng hình khối trụ nhỏ. Ngoài ra bánh khai vị còn có onde-onde, một loại bánh hình tròn viên, vỏ được làm từ bột gạo nếp hòa với hương vị của lá dứa (pandan leaves), trong nhân là dừa và đường làm cây chà là. Ăn món này, bạn sẽ cảm nhận được sự giòn tan của bánh và vị ngọt của si rô đường làm từ cọ.

Ais kacang nghĩa đen có nghĩa là “kem đậu” ở tiếng Mã Lai, hay còn có cái tên khác là ABC (Air Batu Campur), tức là đề cập tới hai nguyên liệu, thành phần chính để làm món này: kem và đậu đỏ. Tuy nhiên, bạn sẽ thấy trong thành phần có thêm gula Melaka (loại đường làm từ cọ), thạch, ngô, đậu đỏ, đậu có mắt đen, hạt của cây chà là và một vài thứ khác nữa. Tất cả các thành phần được trộn vào với sữa đặc hoặc nước kem dừa với si rô màu, tất cả tạo ra một món kem rất thú vị và sảng khoái.

Apam balik, còn được gọi là “Terang Bulan” ở một vài bang, là một loại bánh có hình dạng gần giống với bánh pancake kẹp ở giữa bơ hay magarine, đường, và đôi khi có cả ngô.
Bubur cha-cha là một loại “chè” gồm mứt, khoai tây ngọt và bột cọ sagu, súp sữa dừa. Món này có thể ăn nóng hoặc lạnh. Có thể ăn vào bữa sáng hoặc ăn như món khai vị.

Cendol là một loại “chè” gồm sợi làm từ hạt đậu xanh, thường ăn với đường chà là hoặc là sữa dừa. Nó thường được ăn lạnh và là món ăn tuyệt vời ở vùng nhiệt đới nóng ẩm.

Pisang goring nghĩa đen có nghĩa bánh chuối: chuối được tẩm bột rùi rán lên. Là một loại thức ăn đường phố, có thể ăn vào buổi chiều, khai vị hoặc ăn như snack bất kì lúc nào trong ngày.

Pulut hitam là một loại bánh pudding làm từ gạo nếp đen với đường từ cây chà là. Sữa dừa sẽ được cho lên trên bánh trước khi ăn.

Pulut Inti : là một loại bánh làm từ gạo nếp và sữa dừa. Nó được hấp và để lên trên dừa tươi bỏ lò và đường chà là. Theo truyền thống, món ăn này được gói trong lá chuối theo hình kim tự tháp.

Sago gula Melaka là một loại bánh pudding đơn giản ăn với si rô đường chà là và sữa dừa.

Ẩm thực Trung Quốc

Món ăn Trung Quốc được ăn ở Malaysia thường có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là ở Phúc Kiến và Quảng Đông. Những món ăn Trung Quốc này ở những nhà hàng lớn hầu như không thay đổi gì so với ở Trung Hoa đại lục, nhưng những món ăn này ở đường phố thì đã được cải biên đi chút ít, khi ăn thường cho thêm ớt và sốt belachan làm từ tôm lên men. Mì không chỉ được ăn dưới dạng mì canh mà còn ăn dưới dạng mì xào (mì ăn khô)- ăn với ớt và gia vị ở trong một cái bát, canh súp được để ở một bát riêng.

Bak chor mee là món mì với thịt băm, được đun cùng với tương ớt, cá khô, rau và nấm.

Bak kut the là món “sườn trà”, là một loại canh nấu khá đơn giản. Sườn được ninh trong nhiều giờ. Món ăn này thường được ăn với cơm trắng, dưa chua (mui choy) và một ấm trà đặc, do đó tên của món ăn- canh nhưng không phải trà. Để ăn cho đúng vị, hãy gọi thêm vài chiếc quẩy, cắt thành miếng nhỏ, nhúng vào súp và ăn. Thành phố cảng Klang được coi là quê hương của món ăn này.

Char kui teow là một loại mì yêu thích ở Penang. Ở món ăn này, mì được sào với nước tương, tôm, sò, rau giá đậu tương, cây huệ tây (một loại) và mỡ lợn (bak you). Mỡ lợn có thể bị loại ra trong thành phần nếu được nấu bởi người Mã Lai và Ấn Độ kiêng thịt lợn.

Chee cheong fun là món ăn sáng yêu thích của người Trung Quốc. Thành phần gồm my phong cách một loại mý Ý (lasagna) cuộn với nhiều loại thịt khác nhau và cá viên và đậu phụ rán. Món ăn này luôn được đổ rất nhiều nước sốt lên trên.

Chwee kway Là món ăn gồm cơm nắm, ở trên là chai po (củ cải trắng ướp muối) và cũng thường được ăn với tương ớt.

Fish ball noodles: có rất nhiều loại khác nhau, nhưng dù ở dạng nào cũng hầu như đều có các thành phần: canh mì phở dát mỏng ( thành phần có trứng) với tương ớt và cá viên tròn ở trong một bán riêng để bên cạnh.

Hainanese chicken rice: món cơm gà. Thành phần gồm gà miếng, ăn với cơm. Gà thường để miếng to, có vị gừng, ăn thường chấm nước tương ớt. Gà ở đây có vị rất tinh tế, nhưng chính cơm và nước sốt mới là điều làm nên sự hấp dẫn cho món ăn này. Hiện nay, có rất nhiều biến thể rất thú vị của món ăn này ở Malacca, Muar và Johor, với cơm được nấu cho tới khi nó dính vào với nhau và có thể nắm được.

Hokkien mee được biết tới với ít nhất là 3 món ăn khác nhau. Ở Kuala lumpur, món ăn này được nấu từ mì sợi dày với nước tương, trong khi ở Penang thì bạn sẽ nấu với súp tôm. Đáng thú vị là, không món ăn nào trong hai món này giống với món ăn cùng tên ở Singapore

Kway chap Món ăn gồm một bát súp mì màu hơi nâu nâu, được ăn cùng một đĩa thịt kho và một đĩa nội thịt nội tạng lợn ( thường là ruột)

Lok-lok bao gồm các xiên cá, thịt, và rau, được nấu với canh, khi ăn sẽ cho thêm nước sốt vào. Nước sốt nổi tiếng nhất là “kuah kacang” là loại nước sốt làm từ hạt đậu và theo truyền thống, nó được ăn với thịt xiên và cơm gói ( một loại cơm nắm )

Steamboat hay còn được gọi là lẩu, một phong cánh món ăn tự chế. Bạn sẽ có một nồi canh lẩu. Trong canh lẩu này được đựng trong một nồi luôn nóng để ở trên bàn, còn có thịt miếng, cá, rau.. sau đó bạn sẽ tự nấu, chế biến theo cách của bạn. Khi ăn xong, bạn có thể cho mì hoặc cơm để ăn với canh lẩu đó. Thông thường, ăn lẩu ít nhất là phải ăn hai người, hoặc có thể nhiều hơn thành một nhóm người.

Wantan mee là loại mì sợi mỏng nấu với bánh nhân thịt lợn băm. Không giống với món súp ở Hồng Kong, nó thường được ăn khô, chứ không có canh

Yong tau foo nghĩa đen của nó là “đậu phụ thối”, tất nhiên món ăn này thú vị hơn nhiều cái tên của nó. Người ăn sẽ chọn một vài loại thức ăn yêu thích như đậu phụ, nước sốt (mắm), hải sản, rau và họ có thể thái lát ra từng miếng, nấu qua trong nước sối sau đó nấu thành canh, hoặc súp hoặc đun khô để ra bát riêng. Món này có thể ăn với bất kì loại mì nào hoặc không. Đồ ăn kèm rất quan trọng của món này là tương ớt và một loại nước sốt ngọt màu nâu để nhúng.

Ẩm thực Ấn Độ

Mặc dù chiếm tỉ lệ ít nhất trong Malaysia “Big 3” gồm người Mã Lai, Ấn Độ, Trung Quốc, nhưng ẩm thực ấn độ lại có mức độ ảnh hướng rất lớn tới ẩm thực nơi đây với phong cách ẩm thực mamak (phong cách của người hồi giáo Ấn Độ) có thể nhìn thấy ở hầu hết các thành phố và thị trấn. Nhà hàng kiểu Nasikandar đưa ra một loạt những thức ăn khác nhau để trên cơm để ăn cùng. Những món ăn Ấn Độ đích thực ở Malaysia đều là những đặc sản ở Nam Ấn ví dụ như dosai, idli, sambhar và uttapam. Ngoài ra còn có một vài bữa ăn ở Bắc Ấn như bánh mì naan, món sốt thịt hải sản hoặc rau (korma) và gà quay (tandoori chicken). Tuy nhiên, có một vài món ăn Ấn Độ đã bi “Malaysia hóa” và được tất cả mọi người dân Malaysia đều dùng.

Fish head curry: Đúng với cái tên của nó, món ăn này gồm một con cá to nấu cho tới dừ. Khi thưởng thức món này, mọi người thường không ăn đầu cá mà sẽ ăn thịt ở trong và quanh đó. Chú ý là có hai phong cách nấu riêng biệt, của người Ấn và người Trung Quốc (phong cách nấu của người Trung Quốc thường được ăn cùng với canh và súp mì).
“Phong cách mamak” mee goring: là món ăn rất phổ biến ở những cửa hàng theo phong cách mamak, hay còn gọi là mì xào theo phong cách mamak, món này được người dân Malaysia rất ưa chuộng.

Nasi briyani (một vài người gọi là nasi beriani): Món ăn này được bài trí gồm cơm thường có màu vàng ở dưới, trên là thịt bê, cừu, hoặc gà thái miếng và được đun với gia vị khá đậm. Ở những nhà hàng kiểu nasi kandar thì cơm lại thường không được ăn với thịt, chỉ có các loại cơm ( chứ không phải chỉ có cơm trắng) và thường ăn với cà ri hoặc những món phụ.

Roticanai là món được “Malaysia hóa” từ món parotta của Nam Ấn, nó là một loại bánh mì, dát phẳng gần như đế bánh pizza, được rán với dầu, và sau đó ăn với cà ri. Roticannai có thể được ăn với sốt thịt bò (dal gravy) hoặc sốt cà ri, đôi khi cả hai, và thường được phục vụ hai chiếc bánh giống như “roti kosong”. Những biến thể của món ăn này gồm roti telur ( ăn với trứng), murtabak (với gà, cừu hoặc cá), roti boon ( với sữa đặc) và roti tisu (làm rất mỏng giống như tờ giấy và có phết đường caremen.

Putu mayam là món ăn gồm mì gao, giống như miến, trộn với dừa vụn và một ít đường thốt nôt.

Ẩm thực ở Đông Malaysia

Ở Đông Malaysia, đặc biệt là Sarawak, cũng có rất nhiều món ăn địa phương độc đáo nhưng khó để có thể nhìn thấy ở bán đảo Malaysia.

Manok Pansoh: Món ăn phổ biến của người Iban. Đây là món gà nấu trong ống tre ăn với cơm. Khi nấu, cho gà vào ống tre cùng với những thành phần khác như nấm, sả, lá sắn sau đó đốt dưới lửa giống như cách nấu cơm Nam. Một đầu của ống được bịt kín lại để giữ mùi vị của gà và tạo ra mùi tuyệt vời của gà nấu trong xả, ống nứa, tre. Manok Pansok không dễ mua ở những nhà hàng và quán cà phê, chỉ có một vài quán yêu cầu đặt trước thì mới có.

Umai. Là một món salad cá, phổ biến với rất nhiều những dân tộc khác nhau ở Sarawak, đặc biệt là người Melana. Thực ra, Umai là một trong những món ăn trưa truyền thống của ngư dân Melana. Umai được làm từ cá tươi, lạnh nhưng không phải là cá đông lạnh. Thành phần chính được sử dụng bao gồm cá thu, cá Bawal hitam và cá Umpirang. Cá được dát mỏng, hành được thái lát, ớt, muối, và ít nước hoa quả chua như chanh. Nó thường được ăn với một bát chân châu thay vì ăn cơm. Món ăn này được những người ngư dân hay làm cho lên thuyền. Ngoài ra còn có món Umai Jeb, món salad cá không có vị như món truyền thống, hay được ăn ở Bintulu Melana. Tuy nhiên, rất ít khi nghe thấy nó ở Kuching mà để ăn món này bạn phải gọi, Nasi Campur” trong những bữa ăn trưa. Hầu hết các quán cà phê, đặ biệt là những quán cà phê của người Malay hoặc Bumiputeram, món Umai được họ gọi là” Nasi Campur”

Midin (bắt nguồn từ Sarawak). Đây là món dương xỉ sào. Cư dân địa phương ở đây rất thích món rau làm từ dương xỉ ở các khu rừng nhiệt đới (khá giống với món Pucuk paku phổ biến ở bán đảo này). Món Midin thường được mọi người thích vì vị của nó rất tuyệt vời và bề ngoài ăn rất giòn. Midin thường được phục vụ theo hai cách: có thể sào với tỏi hoặc với tôm say nhuyễn (belacan). Bạn có thể thưởng thức Midin khi bạn ăn cơm chộn Nasi Campur tại bữa trưa ở Kuching. Hầu hết các quán ăn đều phục vụ món này hàng ngày khi ăn với cơm chộn Nasi Campur.

Budur Pedas (có nguồn gốc từ Sarawak). Không giống như các món cháo khác mà chúng ta biết, Bubur Pedas được nấu với những gia vị rất đặc biệt. Món cháo này gồm rất nhiều gia vị khác nhau gồm nghệ, sả, giềng, ớt, gừng, dừa và hẹ tây. Giống như món Bubur Lambuk nổi tiếng ở Kuala Lumpur, Bubur Pedas là món giành riêng để ăn trong những ngày của tháng Ramadan và được phục vụ trong những bữa tuyệt thực. Do đó, đừng hi vọng bạn sẽ ăn được món ăn này bất cứ khi nào bạn muốn.

Nasik Aruk (bắt nguồn từ Sarawak). Nasik Aruk là món cơm rang truyền thống của người Mã lai ở Sarawak. Không giống với món cơm rang Nasi Goreng, Nasik Aruk không sử dụng bất kì một loại dầu và mỡ nào để rang cơm. Thành phần gồm có tỏi, hành và cá khô, sào với ít dầu và sau đó mới cho cơm lên. Cơm phải rang lâu hơn (so với cơm rang
Nasi Goreng) để có được vị khoi khói ở trong cơm. Bạn thường xuyên nhìn thấy món ăn này ở menu ở những quán ăn ven đường ở Malay.

Linut/ Ambuyat (bắt nguồn từ Brunei, nhưng được ăn rất rộng rãi ở Sabah và Sarawak). Linut (ở Sarawak) và Ambuyat (ở Sabah) là món ăn giống như một loại cháo, làm từ bột sagu (một loại bột làm từ cọ). Nó có thẻ ăn sống, hoặc với nước sốt sambal belacan làm từ những loại gia vị như ớt, dấm, cà chua, hành và các loại rau. Thông thường, Linut hay
Ambuyat được ăn như bữa ăn phụ.

Món ăn “ảnh hưởng từ ẩm thực Trung Quốc” ở Đông Malaysia

Sarawak laksa là món mì phổ biến ở người dân địa phương ở đây. Nó khá ngọt và có vị có vị dừa giống như món laska lemak của Singapore, nhưng có vị cay hơn( chủ yếu là có vị nước sốt sambal belacan, một ít ớt và bột tôm)và có tôm, gà và trừng ở trên.

Kolo mee: là một loại mì đơn giản mà được người Sarawak rất ưa chuộng, ăn với trứng rán và thịt nướng.

Tomato kueh tiaw: Loại mì, có rất nhiều kiểu nấu món mì kueh tiaw (dát mỏng, làm từ gạo: giống như bánh đa ở Việt Nam), ăn sốt khoai tây, thịt (thường là thịt gà xé), rau và hải sản (thường là tôm). Món ăn này khá đặc biệt ở Kuching.

Keh lapis Sarawak hay bánh Sarawak Layer là một loại bánh được nướng kĩ với nhiều tầng, nhiều lớp, có vị rất ngon và khá đặc biệt độc nhất.

Foochowbagel (kompia). Loại bánh kẹp thịt này chỉ có thể được tìm thấy ở Sibu nơi người Trung Quốc của thị tộc Foochow chiếm đa số.

Nơi để ăn

Nơi rẻ nhất để ăn là những quán ăn ven đường và quán cà phê, được gọi là Kedai kopi ở Malay hoặc kopitiam ở Trung Quốc. Những cửa hàng này không chỉ bán cà phê mà còn bán rất nhiều những loại thức ăn và đồ uống khác. Đặc biệt phổ biến mà khá được mọi người ưa chuộng là quán ăn kiểu mamak, thường được những người Hồi giáo Ấn Độ mở ra và phục vụ người dân người dân địa phương Ấn Độ như roti canai. Hầu hết những quán ăn ven đường thường mở rất muộn và thậm chí còn mở theo ca, do đó bạn có thể thấy những quán tương tự nhau phục vụ những thức ăn khác nhau ở những thời điểm khác nhau của ngày. Bạn cũng có thể mua đồ ăn mang đi ở bất kì quầy hàng nào, chỉ cần nói bungkus (tiếng Mã Lai) hay là tapao ( tiếng Trung Quốc). Một bữa ăn ở quán ven đường hiếm khi lên tới hơn 5RM. Tiêu chuẩn sạch sẽ ở Malaysia không thể bằng được nước láng giềng Singapore hay những nước phương Tây. Tuy nhiên, giá cả hợp lý và sạch hơn rất nhiều so với các nước khác, ví dụ như Trung Quốc hay hầu hết các nước Đông Nam Á khác.

Nói chung, bạn hãy quan sát, nếu mà những quầy bán đồ ăn có người dân bản xứ vào ăn thì bạn có thể yên tâm là an toàn khi ăn ở đó.

Ở những nhà hàng lớn hơn là kedai mankanan hay những nhà hàng mang phong cách phương Tây. Một loại nhà hàng mà được mọi người ở đây coi trọng đó là kiểu nhà hàng nasi kandar (thường được gọi là nasi campus hay nasi padang), với một loạt những món cà ri và những món hảo hạng khác.

Những nhà hàng hải sản (makanan laut) ở đây tương đối đắt nhưng sẽ đáp ứng hầu hết các tiêu chuẩn về ngon và sạch sẽ. Mặc dù vậy, hãy hỏi giá trước khi gọi món. Tôm hùm và cá, cua được nấu theo phong cách Trung Quốc được phục vụ với tương ớt rất được ưa chuộng ở đây.

Cuối cùng, một vài sự lựa chọn ít mang tính khám phá hơn đó là khu vực các quầy bán đồ ăn ở trong các trung tâm thương mại. Đây chính là một cách hay để thử những đồ ăn ngon, được ngồi trong sự thoải mái của điều hòa, mà chỉ phải trả một khoản tiền nhỏ so với giá của những quán ăn ven đường. Và tất nhiên, bạn cũng có thể tìm thấy những quán McDonalds, KFC, Pizza Hut và cả những quán ăn bắt chước theo phong cách đó ở khắp Malaysia.

Ăn kiêng/ Ăn chay

Là một đất nước của hồi giáo, nên để tìm được thức ăn theo kiểu đạo Hồi (halal) ở Malaysia rất dễ dàng, tuy nhiên hầu hết những quán ăn của người Trung Quốc hay những nhà hàng đều không theo phong cách Halal. Nếu nghi ngờ, hãy hỏi trước khi vào. Những bữa ăn ở nhà hàng Mã Lai và những quán ăn nhanh như McDonalds, gà rán Kentucky, Pizza Hut đều phù hợp với người đạo Hồi. Nhà hàng ở các khách sạn lớn không phục vụ theo phong cách Halal khi họ phục vụ rượu, tuy nhiên họ thường không phục vụ thịt lợn. Người dân đạo hồi bản xứ có thể sẽ lui tới những quán ăn kiểu phương Tây, Trung Quốc hay Ấn Độ nếu có biển “phục vụ theo phong cách của người hồi giáo” treo lên. Hầu hết các nhà hàng đều có xu hướng treo chứng chỉ “phục vụ theo kiểu hồi giáo” (Halal certification) hoặc có treo biển “phục vụ theo phong cách của người hồi giáo”( Halal sign). Chứng chỉ Halal được trao bởi cơ quan chính phủ, thường gọi là chứng chỉ JAKIM ( do cơ quan JAKIM cung cấp) (http://stardeal.my/app/webroot/blog/what-is-halal-jakim/).

Ăn chay là điều dễ hiểu ở cộng đồng Trung Quốc và Ấn Độ ( không chỉ bời người dân đạo hồi Mã Lai và những cộng đồng người bản xứ). Ở rất nhiều nhà hàng hay quán ăn ven đường đều có thể nảy ra một vài yêu cầu (Nói rõ: không thịt, không cá, không hải sản- chỉ có Rau và trứng). Tuy nhiên, đừng chỉ dựa hoàn toàn vào sự miêu tả trong thực đơn: hầu như các món giống: “rau sào” sẽ có thịt lợn miếng nhỏ, hoặc mắm tôm (gọi là belancan, thường được sử dụng ở Maly và những món ăn cay của Trung Quốc), hay nước mắm….Những nhà hàng Ấn Độ thường có một thực đơn ăn chay với khá nhiều món để lựa chọn. Ví dụ như roti (bánh mì lát của Ấn Độ- bất kì loại nào; gồm roti canai, roti naan, capati, tosai) là những sự lựa chọn tuyệt với. Và HÃY yêu cầu dhal ( một loại carry làm từ hạt đậu xăng) trước để tránh việc họ sẽ đưa cho bạn nước mắm carry (làm từ cá).
Những nhà hàng Trung Quốc mà chỉ chuyên phục vụ người ăn chay ( thường phục vụ bằng những sản phẩm “giả thịt” làm từ đậu phụ, gluten..) khá là phổ biển ở những vùng đô thị mà đông dân Trung Quốc. Để kiếm được một quán ăn chay ở vùng nông thôn, đặc biệt là những nơi gần làng chài hoặc những vùng đã từng bị người Mã Lai/ đạo hồi thống trị thì sẽ khó hơn. Tuy nhiên, học những từ vựng Malay đơn giản dọc đường sẽ giúp bạn hiểu những thông điệp này, bạn có thể học ở Malay phrasebook- những cụm từ thường dùng ở Malaysia. Những nhà hàng phong cách phương tây ở những nơi sang trọng, chẳng hạn như những nhà hàng Ấn Độ sang trọng sẽ có rất nhiều những món ăn cho người ăn chay mà bạn có thể dễ dàng lựa chọn.

Veganism: chủ nghĩa ăn chay trường (không ăn mà cũng không dùng bất cứ một sản phẩm nào từ động vật, trứng, da..) hiếm khi được biết đến và thường bị nhầm với từ đồng âm vegetarianism: chủ nghĩa ăn chay, tuy nhiên để an toàn nhất thì người ăn chay nên vào những nhà hàng ăn chay của người theo phật giáo Trung Quốc ( hầu hết những nhà hàng ăn chay của người Trung Quốc đều có chế độ ăn chay nghiêm ngặt và hoạt động theo nguyên tắc của người theo phật giáo đó là không sát sinh và luôn có lòng thương cảm, do đó họ kiêng cả những sản phẩm từ sữa và trứng, và rau có mùi hôi (hành, tỏi, tỏi tây,..). Nếu bạn vẫn chưa thấy yên tâm khi vào những nhà hàng này, hãy hỏi trước khi vào.

Ngủ

Chỗ ngủ giá rẻ

Những khách sạn giá rẻ và những nhà trọ rẻ tiền luôn có sẵn ở hầu hết các thành phố va những điểm đến du lịch. Tuy nhiên, ở những chỗ ở rẻ tiền đó, có một vài chỗ không đáng tin cậy cho lắm. Hãy thận trọng khi chọn một chỗ ở rẻ tiền để tránh những hoạt động đồi trụy, bất hợp pháp.

Những thành phố lớn hơn sẽ có những chỗ ngủ an toàn: YMCAs. Một chuỗi những khách sạn rẻ tiền nữa là Tune Hotels- là một cơ sở của hãng hàng không giá rẻ Airasia. Họ đang mở rộng và có những khách sạn ở rất nhiều địa điểm khắp cả nước.

Hạng trung

Những khách sạn hạng trung có ở khắp mọi nơi. Giá của khách sạn 3 đến 4 sao khoảng từ 100 RM và chất lượng ở đây thì khá là đảm bảo, đáng tin cậy.

Cao cấp

Khách sạn 5 sao, những căn hộ cao cấp và khu resort có ở hầu hết các thành phố lớn hơn như Kuala Lumpur, Penang, Johor Bahru, Kota Kinabalu và Kuching. Hầu hết các đảo cũng có những khu resort và spa quy mô lớn cho khách du lịch lành mạnh.

Uống

Người Malaysia thích cả cà phê (kopi) và trà (teh), đặc biệt là nước uống riêng có của quốc gia teh tarik (một loại trà sữa “pulled tea”), cái tên là “pulling” bởi vì người pha chế sử dụng hai chiếc ly lớn bằng inox để đổ trà sữa qua lại. Theo mặc định, cả hai loại trà và cà phê này đều dùng khi ấm, và có thêm sữa đặc. Nếu yêu cậu teh nghĩa là trà không có sữa, teh ais là trà sữa với đá, teh o ais là trà có đá nhưng không có sữa. Nếu uống mà không đường thì là điều khá kì quặc, nhưng có thể yêu cầu kurang manis (ít đường). Tuy nhiên, nếu bạn thực sự muốn uống không đường, bạn có thể yêu cầu “teh kosong”

Một loại nước uống yêu thích đặc biệt nữa của người dân địa phương ở đây là kopi tongkat ali ginseng, là sự pha trộn của cà phê, một loại rễ cây ở địa phương có tác dụng tốt cho sinh dục, nhân sâm và sữa đặc. Loại nước uống này thường được chào hàng như một thứ nước uống tăng cường sinh lực chon nam giới và thường được quảng cáo với hình ảnh của một chiếc giường chia đôi.

Những sựa lựa chọn khác mà không có cồn gồm có Milo socola và nước chanh. Nước hoa quả tươi cũng khá có sẵn cũng như là một loạt những loại nước uống đóng chai (một vài loại khá quen thuộc, một vài loại khác thì không)

Được mọi người thích thú và có lẽ là bạn không sáng suốt khi không chọn loại nước uống địa phương được kết hợp từ sữa đậu lành trắng và thạch màu đen (cincau) với cái tên Michael Jackson và bạn có thể gọi ở hầu hết các quán ăn và cà phê ven đường.

Mặc dù Malaysia được biết đến là một đất nước hồi giáo nhưng rượu vẫn có bán ở những cơ sở được cấp giấy phép tiêu thụ cho những người không phải hồi giáo và khách du lịch. Tuy nhiên, ở một vài bang ( như Kelantan và Terengganu) cấm rượu. Với những đảo mà miễn thuế ( như Labuan, Langkawi, Tioman) và những cửa hàng miễn thuế ( ví dụ như ở Johor Bahru), giá của rượu tương đối cao, một lon bia giá có thể lên tới 7.50 RM hoặc thậm chí ở những siêu thị còn đắt hơn. Tuy nhiên, ở Đông Malaysia, rượu nhập lậu được bán khá phổ biến.

Ở Đông Malaysia, đặc biệt là Sarawak, tuak là là thứ khá phổ biến ở bất kì lễ kỉ niệm hoặc lễ hội nào, chẳng hạn Gawai Dayak và Christmas Day. Tuak được làm bằng cách lên men gạo với đường, mật ong và một vài gia vị khác. Nó thường được uống với Đá. Du khách có thể chọn hương vị tuak mạnh ( tuak được lên men trong nhiều năm) hoặc là hương vị tuak nhẹ ( thường chỉ lên men trong 1 hoặc vài tuần). Ở Sabah, những rượu rẻ tiền được dùng rộng rãi và có ở hầu hết các siêu thị cả lớn và mini trong bang. Những nước uống có cồn khác như bia và rượu whisky cũng khá phổ biến. Nói cách khác, rượu Tuak ơ Kelantan cũng được coi như là một loại rượu bởi vì nó chứa chất lên men nipah hay nhựa hoa quả. Rượu ở Kelantan tuak có thể lên tới nồng độ 50% sau 3 ngày kể từ ngày mở chai.

Tapai, chứa sắn đã lên men và được ăn như một loại thức ăn ( mặc dù là chất lỏng có thể uống). Nó tương tự như một loại rượu nhẹ. Tapai thường được tiêu thụ bởi người hồi giáo ở Bờ Đông ( Kelantan, Terengaganu..), ở Hari Raya (Eid), và chính quyền hồi giáo cùng với đảng hồi giáo Malaysia ( Malaysia Islamic Party) đã cho phép người hồi giáo ăn, uống một vài đồ lên men.

Học

Những đại học ở Malaysia nhìn chung rất được coi trọng có trương trình trao đổi sinh viên cả ngắn và dài hạn.

University Malaysia Pahang (UPM): là đại học tốt nhất về kĩ thuật và kĩ sư ở Malaysia, có trụ sở ở khu vực Bờ Tây, Pahang. Đại học này được chia làm hai khuân viên, ở Gambang và Pekan, cách nhau khoảng 60km

Tunku Abdul Rahman University (UTAR). Đại học Tunku Abdul Rahman trước đây được gọi là University Tunku Abdul Rahman, tiền sử là một đại học tư nhân ở Malaysia, cung cấp các trương trình giảng bao gồm kinh doanh, tài chính, kế toán, y học, Y học Trung Quốc, và nghiên cứu về Trung Quốc, khoa học, báo chí, nghệ thuật sáng tạo.

Multimedia University (MMU). Đây là đại học tư nhân đầu tiên của Malaysia. Đại học truyền thông MMU là một trong nhưng đại học tư nhân đẫn đầu ở Malaysia với phương pháp giảng dạy sáng tạo. Với sự ủng hộ từ chính phủ Malaysia tới Telekom Malaysia Berhad, Đại học tư nhân đầu tiên đã được thành lập vào tháng 10/ 1996

University Teknologi Malaysia (UTM): Đây là một trong những đại học chuyên về lĩnh vực kĩ thuật.

University of Malaysia (UM): Đại học lâu đời nhất ở Malaysia. Đại học này được công nhận là đại học hàng đầu ở Malaysia, và rất nhiều người Malaysia nổi tiếng nguyên là cựu học sinh của trường.

University Putra Malaysia (UPM): Trước đây là Universiti Pertanian Malaysia và là một trong những ngôi trường lâu đời nhất ở Malaysia. Trường đại học này trước đây tập trung
vào nông ngành nông nghiệp nhưng giờ dẫn đầu cả nước về sinh học, y học và công nghệ sinh học. Trường đại học duy nhất ở Malaysia cấp bằng bác sĩ thú y.
Universiti Sains Malaysia (USM): Trường đại học thứ hai ở Malaysia, tập trung vào những ngành kĩ thuật và là một trong ba trường đại học được biết đến như trường đại học mạnh về nghiên cứu ở Malaysia.

Universiti Malaysia Sarawak (UNIMAS): Tập trung vào ngành du lịch, công nghệ sinh học và Công nghệ thông tin, có mối quan hệ thân thiết với nhiều trường đại học ở Úc.
International Islamic University of Malaysia (IIUM). Trường đại học bán công ở Malaysia, được tài trợ bời 8 chính phủ khác nhau từ tổ chức hồi giáo ( Organization of the Islamic Conference: OIC)
Universiti Kebangsaan Malaysia (UKM). Đại học công lập thứ ba tại Malasyisa nhưng là trường đầu tiên sử dụng Bahasa Melayu, tức là cung cấp giảng dạy trung gian ( giảng dạy từ xa)
Universiti Kuala Lumpur (UniKL): Đại học tư nhân Malaysia. Tập trung vào kĩ sư và công nghệ thông tin.
Limkokwing University of Creative Technology: là trường đại học tư nhân hạng nhất về giáo dục khoa học sáng tạo. Đây là một trong những ngôi trường có nhiều sinh viên quốc tế nhất ở Malaysia.
Universiti Utara Malaysia (UUM): Ngôi trường nổi tiếng về quản lý giáo dục cho giáo dục đại học ở Malaysia. Nó nằm ở phía Bắc của bán đảo Malaysia ở Sintok, Kedah. Trường có hơn 21.000 sinh viên đang theo học.
Ngoài ra, ở Malaysia còn có một vài trường đại học nước ngoài, cung cấp cơ hội cho các sinh viên được tiếp cận với nền giáo dục nước ngoài tại Malaysia. Một số trường nhứ: Monash University, Swinburne University of Technology và Nottingham University.
Việc làm
Xin được visa làm việc ở Malaysia không phải đơn giản. Cách dễ dàng nhất để làm việc tại Malaysia là làm việc cho một công ty nước ngoài và có trụ sở ở Malaysia. Phòng xuất nhập cảnh của người Malaysa cũng đề cập đến vài lời khuyên. Để có thể xin được giấy phép làm việc, bạn cần phải có một lời đề nghị, giới thiệu từ ông chủ, người này sẽ làm giấy tờ cho bạn. Việc làm này rất đắt và có rất nhiều hạn chế nếu công ty muốn thuê một người nước ngoài và gần như là không thể. Như đã đề cập ở trên, cách khả thi là phải chuyển đổi. Tìm một công việc ở Malaysia gần như là không thể trừ khi bạn kết hôn với người bạn địa. Thậm chí cả kết hôn với người bản địa bạn cũng khó tìm được một công việc ở đây.

Du lịch an toàn

Số điện thoại khẩn cấp: 999

Tỉ lệ tội phạm ở Malaysia cao hơn ở nước hàng xóm Singapore, và tội phạm đường phố là phổ biến. Tội phạm đối với khách du lịch thường là cướp túi, móc túi, và ăn trộm. Do đó hãy chú ý đến những đồ vật có giá trị. Kẻ trộm thường xuất hiện ở những nơi đông người như siêu thị và nơi giao thông công cộng. Nhìn chung, nếu bạn tránh những khu vực hẻo lánh, trở về khách sạn trước nửa đêm và hoạt động bình thường, bạn hiếm khi bị tấn công.

Tội phạm

CẢNH BÁO: Malaysia xử phạt đối với người sử dụng thuốc phiện cực kì khắc nghiệt. Lệnh tử hình là bắt buộc đối với những người bị buộc tội là buôn lậu, sản xuất và nhập, xuất hơn 15g heroin. 30g Morphine, 30g cocaine, 500g cannabis, 200g nhựa cannabis và 1,2kg thuốc phiện. Về việc tiêu thụ trái phép, sẽ phải chịu tối đa 10 năm tù hoặc phạt tiền nặng hoặc cả hai. Bạn có thể bị buộc tội sử dụng thuốc trái phép nếu có dấu hiệu sử dụng thuộc trong hệ thống liên quan tới bạn. Thậm chí, bạn có thể chứng minh rằng nó được tiêu thụ bên ngoài quốc gia , bạn sẽ bị buộc tội là buôn lậu. Bạn cũng sẽ có tội nếu họ tìm thấy thuốc trong túi, phòng, cặp của bạn, thậm chí cả những đồ không phải là của bạn bất kể bạn có biết đồ vật đó là gì và của ai hay không. Do đó, hãy thận trọng với những đồ mà bạn sở hữu.

Những kẻ móc túi và những kẻ trộm đồ rùi bỏ chạy thỉnh thoảng sảy ra ở Kuala lumpur, Penang, Georgtown và Johor Bahru. Để phòng ngừa, đừng bao giờ để túi sách của bạn về bên phía ngoài mặt đường (ví dụ đi bên tay phải, thì đừng để túi sách bên tay trái) và luôn luôn đi bộ ở nơi có người tham gia giao thông. Ngoài ra, khi đi bộ nên đi bên lìa đường và phụ nữ phải cẩn trọng hơn khi ra đường vào buổi đêm.

Johor Bahru được biết tới là một thành phố có tỉ lệ tội phạm khá cao so với các bang, thành phố khác ở Malaysia, trộm cắp và cướp có vũ khí có thể sảy ra vào ban đêm ở những nơi vắng vẻ. Những tài liệu về du lịch và thứ có giá trị tốt nhất nên để ở khách sạn an toàn.

Hãy nhớ rằng ở Malaysia, tội phạm sẽ bị phạt bằng gậy. Bị kết tội ăn cướp, cố ý phá hoại những tài sản, công trình nghệ thuật, nhập cư bất hợp pháp, hối lộ, ở quá thời hạn visa, và các tội phạm khác cũng bị phạt bằng gậy. Những trận đòn từ cây gậy to cực kì đau và có thể mất vài tuần để lành, thậm chí sẹo còn để lại cả đời. Hình thức phạt này cũng được áp dụng ở Singapore.

Gian lận thẻ tín dụng càng ngày càng gia tăng. Bạn chỉ nên sử dụng thẻ tín dụng ở những cửa hàng đảm bảo, có uy tín.
Đừng bao giờ mang bất cứ thuốc kích thích mang tính giải trí nào theo trên người ở Malaysia, thậm chí là chỉ là du khách quá cảnh. Bạn chỉ sở hữu một lượng nhỏ thuốc này sẽ dẫn tới bị tử hình.

An toàn giao thông

Lái xe trong tình trạng say xỉn là một tội nghiêm trọng và những cuộc kiểm tra lượng cồn trong cơ thể là chuyện bình thường. Bạn không nên đút lót cho cảnh sát làm gì- nếu bạn vi phạm sẽ bị phạt tù lên tới 20 năm. Bất cứ ai cố gắng đút lót những nhân viên nhà nước có thể bị bắt ngay tại chỗ, giam ngay đêm đó và bị xử tội phạm ngay vào buổi sáng hôm sau. Nếu điều này sảy ra vào thứ 6 hoặc vào ngay nghỉ lễ, bạn có thể sẽ phải ở một vài đêm ở chỗ giam vì tòa án chỉ hoạt động từ thứ hai tới thứ sáu. Đừng có nhờ, yêu cầu ai can thiệp. Tuy nhiên, nhìn chung, cảnh sát Malaysia luôn giúp đỡ khách du lịch. Bạn chỉ nên tuân thủ bất cứ sự triệu tập nào liên quan tới việc tham gia giao thông nào.

Khi đi bộ, hãy cận thận khi sang đường. Xe cộ qua thường không để ý tới người đi bộ sang đường. Tuy nhiên, những bản báo cáo về việc lấn át đường trong tai nạn là khá thường xuyên, đo đó, nếu bạn có dính líu tới tai nạn hãy thương lượng một cách cẩn thận hoặc quay số 999 để nhờ giúp đỡ.

Những vấn đề khác

Rất nhiều taxi không sử dụng đồ hồ đo mét, mặc dù thói điều này gần đây đã được thay đổi và hầu hết taxi đã dán một cái sticker ở phía cửa sau để thông báo với khách du lịch rằng: không được tranh cãi hay mặc cả. Nhớ rằng người lái taxi biết rằng bạn là khách du lịch, có thể đi đường vòng để lấy thêm tiền của bạn.
Nếu sử dụng taxi vào buổi tối, tốt nhất là nên sử dụng dịch vụ gọi taxi tới tận nhà qua điện thoại bởi vì nếu vẫy một chiếc taxi tình cờ đi ngoài đường vào thời gian đó có thể sẽ là taxi giả hoặc chưa được đăng kí. Người lái taxi chưa đăng kí có thể cướp hoặc tấn công khách. Bạn cũng có khả năng gọi một chiếc taxi mà đồng hồ đã được đo số mét rùi khi bạn vẫy một chiếc taxi đang đi.

Biểu tình không phổ biến ở Malaysia vì có sự đàn áp thẳng tay của cảnh sát, nhưng gần đây một số cuộc biểu tình chống đối chính phủ cũng đã sảy ra. Nếu một khi cuộc biểu tình sảy ra, nó sẽ bị đàn áp rất kịch liệt, do đó, bằng mọi giá hãy tránh xa nó.

Giữ gìn sức khoẻ

Nước máy có thể uống được ngay khi ra khỏi vòi vì nó đã được xử lí, nhưng thậm chí người dân địa phương cũng đun sôi hoặc lọc để đảm bảo an toàn. Khi đi du lịch tốt nhất bạn nên uống nước đã đun sôi vì nó rất rẻ.

Đá dùng để uống có thể làm từ nước máy tuy nhiên giờ đây, hầu hết các nhà hàng và thậm chí các quán ven đường cũng sử dụng các loại hình trụ có lỗ ở giữa. Loại này được sản xuất hàng loạt ở các nhà máy đá và sử dụng rất an toàn.

Tình trạng kiệt sức vì mất nhiệt rất ít khi xảy ra, tuy nhiên hãy uống nhiều chất lỏng, sử dụng mũ, kem chống nắng và tắm thường xuyên.
Bán đảo Malaysia là thường không có bệnh sốt rét nhưng nó là một thảm họa ở Borneo, đặc biệt là ở các vùng sâu trong đất liền và vùng nông thôn. Bệnh nhiệt đới cấp tính (bệnh sốt xuất huyết) có ở khắp Malaysia cả ở thành thị và nông thôn và chỉ có thể phòng trừ nó là đừng để muỗi cắn. Muỗi có thể truyền bệnh bằng cả vào ban ngày, chúng hoạt động mạnh ở những vùng tối và bụi bẩn. Nếu bạn bị sốt đột ngột, bị đau và ngủ li bì, hãy tới cơ sở y tế ngay lập tức. Thuốc giảm đau Aspirin và ibuprofen không nên sử dụng cho đến khi đã hết rét run vì sốt xuất huyết. Thuốc chống muỗi (ubat nyamuk) được sử dụng rộng rãi. Hãy cẩn thận với cuộn thuốc muỗi, vì nó rất dễ bị cháy: Đặt chúng lên trên đĩa và bề mặt không bắt lửa và dập tắt nó trước khi đi ngủ.

Khói từ việc đốt cây ở nước hàng xóm Indonesia có thể tới bất chợt trong khoảng từ tháng 5 cho tới tháng 8. Do đó, những khách du lịch mắc bệnh khó thở nên chuẩn bị tinh thần.
Hầu hết các nhà vệ sinh nơi công cộng đều mất một khoản phí nhỏ ( thông thường từ 0,2 RM tới 2RM, thường phụ thuộc vào điều kiện cơ sở đó) do đó, nên giữ một ít tiền lẻ theo bên người. Nếu bạn cảm thấy điều kiện vệ sinh hố xí bệt không tốt thì bạn có thể sử dụng hố xí ngồi sổm- cả hai đều có và mọi người cho rằng hố xí ngồi sổm vệ sinh hơn và cũng dễ dàng sử dụng như hố xí ngồi bệt .

Ở Malaysia hầu như không có động đất. Tuy nhiên đôi khi cũng có những cơn trấn động nhẹ từ động đất xảy ra ở nước láng giềng Indonesia. Những cơn bão to cũng thường không xảy ra.Tuy nhiên, mùa gió mùa từ tháng 11 tới tháng 1 thường dẫn tới lụt do mưa lớn, lở đất cũng xảy ra đặc biệt là ở Bờ Đông. Sóng thần hiếm khi xảy ra, tuy nhiên Penang và một vài đảo khác ở phía bắc của Bờ Tây cũng bị tác động bởi trận sóng thần lịch sử năm 2004.
Cơ sở chăm sóc ý tế công cộng rẻ mà lại tốt, tuy nhiên rất nhiều khách du lịch thích tìm những cơ sở tư nhân hơn. Chi phí ở các cơ sở y tế tư nhân có thể cao. Nếu bạn có bảo hiếm y tế thì tốt hơn.

Đồng tính

Là một nước hồi giáo thống trị, người Malaysia có xu hướng khá bảo thủ về đồng tính. Rất ít khi bạn được nghe về người đồng tính và nhìn thấy họ biểu hiện tình cảm nơi công cộng- không cho bất kì kiểu sex nào và bất kì giới nào. Một đôi đồng tính xuất hiện ở nơi công cộng có thể bắt gặp những ánh mắt tò mò nhin chằm chằm của mọi người.
Tuy vậy, thành phố lớn như Kuala lumpur vẫn có những cảnh bày tỏ tình cảm của những đôi đồng tính.

Tôn trọng

Đây là đất nước truyền thống hồi giáo thống trì và bạn nên ăn mặc tỏ ý kính trọng người hồi giáo đặc biệt là những vùng nông thôn (mặc quần và áo dài, không mặc quần ngắn và nên mặc áo có thể che hết vai). Ở những khu vực sầm uất hơn như Kuala lumpur, Johor Bahru, Penang và Ipoh, cũng nư là các bang ở Đông Malaysia (Sabah và Sarawak) với một lượng dân số khá đông không phải là người hồi giáo, thì thái độ của họ về ăn mặc cũng cởi mở hơn.

Là một khách du lịch, tốt nhất là bạn không nên chỉ trích chính phủ Malaysia hoặc gia đình hoàng Mã Lai. Bạn có thể nghe thấy người dân Malaysia chỉ trích chính phủ của họ, nhưng kệ họ, chúng ta chỉ nên nghe và nói lên cảm xúc của chúng ta về chính phủ của chính mình.

Khi vào một ngôi nhà hoặc một nơi thờ cúng, nhớ là phải cởi giày. Bạn cũng không bao giờ nên ăn bằng tay trái cũng như là tặng quà bằng tay trái, và không bao giờ chỉ tay bằng ngón trỏ (bạn có thể sẽ bị ăn đấm). Cũng đừng bao giờ chỉ xuống chân mình hoặc chạm vào đầu người khác.

Thể hiện tình cảm ở nơi công cộng ở những thành phố lớn là có thể chấp nhận được nhưng có thể sẽ bị mọi người chú ý. Ở những vùng nông thôn thì việc như vậy không được tán thành và bị cấm.

Mối quan hệ cùng giới là một chủ đề cấm kị ở Malaysia. Những anh bạn đi du lịch đồng tính Nam và Nữ nên để cho mọi người biết và chú ý tới, kể cả năm tay nhau đi trên đường ở những nơi công cộng. Tình trạng đồng tính luyến ái là bị cấm ở Malaysia.

Bạn sẽ nhìn thấy những hoa văn kiểu swastikas khá phổ biến ở những đền, thánh, miếu của người Hindu và phật giáo, và được coi là biểu tượng tôn giáo của họ. Những kiểu hoa văn này không thể hiện tư tưởng đế quốc xã hay là tư tưởng chống nho giáo, do đó du khách phương tây không nên cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn thấy nó ở gia đình của người dân đây.

Liên lạc

Internet

Kết nối với internet ở hầu hết các thành phố và thị trấn ở Malaysia rất dễ dàng. Malaysia là một trong những nước đầu tiên trên thế giới cũng cấp dịch vụ kết nối 4G. Nhà cung cấp dịch vụ internet ở Malaysia đưa ra dịch vụ băng thông rộng với giá cả hợp lý khắp Malaysia. Do đó, wifi có ở hầu hết các địa điểm như nhà hàng, quán ăn nhanh, trung tâm mua sắm. Ngoài ra còn có mạng kết nối không dây khắp thành phố. Thẻ mạng internet trả trước cũng được bán khá phổ biến, giúp bạn dễ dàng tiếp cận với mạng không dây băng thông rộng ở những quán cà phê.

Khách hàng thường phải trả khoảng 1RM tới 5RM / 1 giờ (phụ thuộc vào thành phố bạn ở) để sử dụng interner ở những quán cà phê có internet. Dịch vụ internet ở các nhà hàng va quán cà phê thường là miễn phí. Hiện nay, càng ngày càng có nhiều quán hàng ăn cung cấp miễn phí dịch vụ internet này. Chẳng hạn như ở Starbucks, Coffeebean, một vài cửa hàng McDonald’s và Subway, và nhiều những cửa hàng nhỏ khác.

Số điện thoại

Mã vùng điện thoại của Malaysia là 60

Điện thoại cố định

Số điện thoại cố định ở Malay có 7 hoặc 8 số. Số điện thoại ở đây được chia làm những khu vực với 2, 3 số mã vùng mà bạn phải quay để có thể gọi sang các vùng khác. Các mã vùng gồm:

03 - Kuala Lumpur, Putrajaya, Selangor
04 - Kedah, Penang, Perlis
05 - Perak
06 - Malacca, huyện Muar của Johor, Negeri Sembilan
07 - Johor (tất cả các huyện trừ Muar)
082 - Sarawak ( huyện Kuching and Samarahan)
083 - Sarawak ( huyện Sri Aman and Betong)
084 - Sarawak (Sarikei, Sibu and các huyện phía Tây của Kapit)
085 - Sarawak ( Huyện Miri and Limbang)
086 - Sarawak ( huyện Bintulu and Belaga)
087 - Sabah (Interior Division)
088 - Sabah (West Coast and Kudat Division)
089 - Sabah (Sandakan and Tawau Division)
09 - Kelantan, Pahang, Terengganu
Các mã vùng 02 phải quay được gọi từ Malaysia tới Singapore. Điều này có nghĩa là không cần phải quay mã vùng 65 khi gọi từ Malaysia sang Singapore. Gọi trực tiếp quốc tế (IDD) từ điện thoại cố định tới tất cả các nước nên quay thêm hai số “00” trước mã vùng nước đó.
Để gọi cho một số điện thoại cố định ở Malaysia

Từ nước ngoài: 00+60 (mã nước Malaysia)+mã vùng(bỏ số 0)+ số điện thoại

Từ các vùng khác nhau của Malaysia: mã vùng (đầy đủ có cả số 0)+ số điện thoại
Để gọi từ các vùng khác nhau của Malaysia đều phải tuân thủ quy tắc này, trừ phi sử dụng số điện thoai di động.

Từ các số điện thoại cố định ở cùng vùng: chỉ cần quay số điện thoại là đủ.

Điện thoại đi động

Malaysia có 4 nhà cung cấp mạng điện thoại di động: Maxis, DiGi, Celcom và U Mobile và sử dụng các đầu số: 012, 013, 014, 015, 016, 017, 018, 019. Kết nối mạng điện thoại ở Malaysia rất tuyệt vời. Việc chuyển mạng giữ số có thể xảy ra ở Malaysia, nghĩa là mã đầu 012 theo truyền thống là của nhà cung cấp Maxis, có thể chuyển thành số của nhà mạng DiGi. Mạng lươi điện thoại di động sử dụng sử dụng hệ thống GSM tần số 900 va 1800. Mạng 3G (WCDMA), EDGE và HSPDA có ở các thị trấn lớn. Có thể chuyển vùng quốc tế ở những mạng này nếu nhà mạng cho phép.

Để gọi cho một số di động ở Malaysia

Từ nước ngoài: 00+ 60 (mã quốc gia Malaysia)+ mã nhà cung cấp dịch vụ di động (bỏ số 0)+ số điện thoại
Trong nước Malaysia: mã đầu số của nhà cung cấp mạng (với số 0) + số điện thoại
Từ các số điện thoại di động với nhau trong nước Malaysia: Mã đầu số của nhà cung cấp mạng (với số 0) + số điện thoại.
Mặc dù có thể bạn không cần quay mã đầu số của nhà mạng nếu hai điện thoại đó cùng mạng với nhau.
Gọi từ Malay tới một nước khác:

Từ một số cố định: 00+Mã quốc gia+ số điện thoại
Ví dụ: Gọi từ Malaysia sang Mỹ: 00+ 1+số điện thoại.
Nếu sử dụng mạng Maxis, hãy tận dụng phí 50% IDD qua IDD132. Do đó, bạn không cần phải đăng kí, chỉ cần bấm 132 trước “00”

Từ một số di động: 00+ Mã quốc gia+ số điện thoại.
Có một cách đơn giản hơn, áp dụng được với rất nhiều điện thoại đi động đó là: bấm và giữ nút :zero sau đó bấm thêm kí hiệu “+” trước mã nước và số điện thoại. Dấu “+” thể hiện mã vùng quốc tế của bất kì nước nào. Nếu dùng mạng Maxis, hãy tận dụng phí 50% IDD, không cần quay số, chỉ cần quay 132 trước “00” và số điện thoại. Ở mạng này không dùng kí hiệu “+”.

Gọi từ Malaysia về Việt Nam

Cú pháp: 00+84+mã tỉnh (bỏ số 0) + số điện thoại cố định
00+84+mã nhà cung cấp (bỏ số 0)+ số điện thoại di động
Ví dụ: gọi cho số điện thoại di động: 0932060690
Cú pháp: 0084 932060690
Ví dụ: gọi cho một số điện thoại cố định tại Hà Nội 33213721
Cú pháp: 0084-4-33213721 (04 là mã vùng của Hà Nội)

Gọi từ Việt Nam sang Malaysia

Cú pháp: 00+60+mã vùng(bỏ số 0)+ số điện thoại cố định
00+60+ mã nhà cung cấp (bỏ số 0)+ số điện thoại
Ví dụ: Goi cho một số cố định ở Kuala Lumpur: 67882344
Cú pháp: 0060-3-67882344 (Mã vùng ở Kuala Lumpur là 03)
Ví dụ gọi cho số điện thoại di động tại Kuala Lumpur là: 012 44563876
Cú Pháp: 0060-1244563876

Lưu ý:

Nên dùng thẻ điện thoại quốc tế Malaysia gọi điện thoại. Tuyệt đối không nên gọi trong khách sạn vì phí dịch vụ rất cao
Nếu điện thoại di động đã nối mạng quốc tế (roaming), khi tới nước ngoài máy sẽ tự động dò tìm mạng của nước đó. Khi đó chúng ta khi gọi về Việt Nam theo cách gọi quốc tế.
Các cuộc gọi đến từ Việt Nam, khi nhận cuộc gọi sẽ bị tính tiền theo cước quốc tế.

Dịch vụ bưu điện

Các hãng cung cấp dịch chuyển thư và bưu phẩm quốc tế như Fedex, DHL và Ups có trụ sở ở hầu hết các thị trấn và thành phố. Tuy nhiên, nhà cung cấp dịch vụ bưu điện chính là Pos Malaysia- địa chỉ tin cậy cung cấp các dịch vụ bưu điện tới hầu hết các nước trên thế giới
.
Bưu phí ở Malaysia rất rẻ, rẻ hơn rất nhiều so với Thailand, Singapore, hay Vietnam. Hơn nữa các điểm bưu điện có ở khắp nơi, và các dich vụ bưu điện rất đáng tin cậy. Khi gửi qua bưu điện, bưu phẩm không được niêm phong để kiểm tra trong bưu phẩm liệu có chứa đồ bất hợp pháp không.

Một công ty chuyên cung cấp dịch vụ bưu điện này nữa là Pos Laju- dịch vụ của công ty rất tốt, có điều giá hơi đắt.

Những bức thư và bưu thiếp không chuyển phát nhanh có thể bị thất lạc ở trong post gửi thư hoặc giữa đường vận chuyển. Nếu có hai chỗ ở các bốt gửi thư thì hãy chọn chỗ gửi thư quốc tế, nó được đánh dấu bằng “lain lain”- tức là thư này được gửi đi quốc tế.

Bưu điện mở cửa từ 8h sáng tới 5h chiều hàng ngày trừ chủ nhật và các ngày nghỉ lễ. Vẫn có một vài bưu điện mở tới 10h đêm ở Klang Valley. Ở các bang Kedah, Kelantan, và Terengganu bưu điện đóng cửa vào các ngày thứ 6 và ngày nghỉ lễ.

ĐẠI SỨ QUÁN VIỆT NAM TẠI MALAYSIA
• Địa chỉ :4, Persiaran Stonor, 50450 Kuala Lumpur, Malaysia
• Điện thoại: (603) 21484858; (603) 21484036
• Fax: (603)21483270
• Email: moc.xymaerts|1nvesiad#moc.xymaerts|1nvesiad, ym.ten.artup|1nvesiad#ym.ten.artup|1nvesiad,
• Website: http://vietnamembassy-malaysia.org