Nhật Bản

Table of Contents

Nhật Bản, hay Nihon hoặc Nippon trong Tiếng Nhật, là một đảo quốc nằm ở Đông Á.

Hiểu biết chung

“Đất nước mặt trời mọc” là nơi quá khứ gặp tương lai. Văn hóa Nhật Bản trải dài hàng thiên niên kỉ, nhưng cũng kế thừa (và sáng tạo ra) những xu hướng và thời trang hiện đại nhất.

Nhật Bản là một đất nước có nhiều mâu thuẫn và trái ngược. Rất nhiều tập đoàn Nhật Bản thống trị các ngành công nghiệp của mình, nhưng nếu bạn đọc những bản tin tài chính thì trên thực tế Nhật Bản lại có vẻ như đang phá sản. Các thành phố thì hiện đại và tiên tiến như bất cứ chỗ nào khác, nhưng vẫn có thể nhận ra những căn nhà gỗ lụp sụp nằm cạnh những tòa nhà chung cư lắp gương kính. Trên những chuyến tàu điện ngầm bình dân, bạn có thể nhìn thấy những nhân vật đồ chơi trẻ em ngộ nghĩnh và cả những sách báo khiêu dâm cực kì bạo lực – và có thể thấy một người đang xem cả hai thứ đó cùng một lúc! Nhật Bản có những ngôi đền và công viên xinh đẹp nằm giữa những tấm biển hiệu lòe loẹt và những tòa nhà xấu xí. Giữa những tòa nhà cao chọc trời hiện đại, bạn có thể tìm thấy một chiếc cửa trượt bằng gỗ dẫn đến một căn phòng truyền thống với chiếu tatami, nghệ thuật viết chữ đẹp và trà đạo. Những sự song hành này sẽ thường xuyên khiến bạn phải ngạc nhiên và hiếm khi cảm thấy buồn chán trong những chuyến hành trình tại Nhật Bản.

Mặc dù người phương Tây thường nghĩ Nhật Bản là đất nước kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, và sự song hành này rõ ràng là có tồn tại, thì suy nghĩ này phần nào cũng đã trở nên lỗi thời và là kết quả của việc Nhật Bản trở thành đất nước châu Á đầu tiên hiện đại hóa thành công sánh vai với các cường quốc phương Tây và việc quảng cáo mạnh mẽ thông qua ngành du lịch. Sự phá hủy liên tiếp các khu di tích lịch sử đang diễn ra ngày càng nhiều, chẳng hạn như việc phá hủy Nhà hát Kabuki-za nổi tiếng. Mặc dù vậy, nếu được lên kế hoạch chu đáo và có kỳ vọng đúng mực thì một chuyến đi tới Nhật sẽ cực kỳ thú vị và chắc chắn là rất đáng để thử.

Lịch sử

Đọc bài đầy đủ về Lịch sử Nhật Bản tại đây.

Con người

Là một quốc đảo đóng cửa với toàn bộ thế giới trong khoảng một thời gian dài (trừ một số ngoại lệ nhỏ cho Trung Quốc và Hàn Quốc), Nhật Bản là một quốc gia rất thuần nhất. Gần 99% dân số là dân tộc Nhật Bản. Dân tộc thiểu số lớn nhất là người Hàn Quốc, khoảng 1 triệu người, trong đó nhiều người là thế hệ thứ 3 hoặc 4. Ngoài ra cũng có một số lượng người Trung Quốc, Philipin và Brazil, nhưng nhiều người trong đó có nguồn gốc Nhật Bản. Mặc dù bị đồng hóa một cách rộng khắp, những cư dân người Trung Quốc vẫn sinh sống tại 3 khu phố Tàu của Nhật Bản ở Kobe, NagasakiYokohama. Những dân tộc thiểu số bản địa bao gồm dân tộc Ainu ở Hokkaido, qua nhiều thập kỉ đang dịch dần lên phía Bắc và hiện có khoảng 50.000 người (con số này thay đổi khá nhiều phụ thuộc vào cách tính toán), và người Ryukyu ở Okinawa.

Người Nhật Bản nổi tiếng vì lịch sự. Nhiều người Nhật rất vui mừng khi có khách du lịch đến đất nước của họ và rất sẵn lòng giúp đỡ những người nước ngoài bị lạc và hay đang có vẻ đang lúng túng. Thanh niên Nhật thường rất thích gặp gỡ và kết bạn với người nước ngoài. Đừng ngạc nhiên nếu một người Nhật (thường là khác giới) tiếp cận bạn ở những nơi công cộng và cố gắng bắt đầu câu chuyện với bạn bằng thứ Tiếng Anh khá trôi chảy. Bên cạnh đó, rất nhiều người khác lại không quen với việc kết giao với người nước ngoài (外人 gaijin) và khá dè dặt và miễn cưỡng khi giao tiếp.

Sự hiện diện của các vị khách du lịch nước ngoài vẫn là một điều hiếm thấy tại rất nhiều vùng bên ngoài các thành phố lớn ở Nhật Bản, và rất có thể bạn sẽ gặp phải tình huống là bạn bước vào một cửa hàng và nhân viên tỏ ra sợ hãi chạy trốn ra phía sau quầy. Đừng nghĩ đây là phân biệt chủng tộc hay bài ngoại gì cả: họ chỉ lo rằng bạn sẽ nói với họ bằng Tiếng Anh và họ sẽ bị lúng túng khi không thể hiểu hay đáp lại được. Một nụ cười và câu Konnichiwa (Xin chào) sẽ giúp ích nhiều trong trường hợp này đấy.

Văn hóa

Vì Nhật Bản đã trải qua các quá trình mở cửa và cô lập trong suốt quá trình lịch sử của mình nên nền văn hóa Nhật Bản khá độc đáo. Mặc dù văn hóa truyền thống Nhật chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc, nó vẫn còn duy trì được rất nhiều tập tục bản địa, tạo nên một sự pha trộn rất hài hòa.

Các ngày nghỉ lễ

Ngày nghỉ lễ quan trọng nhất ở Nhật Bản là Tết Năm mới (お正月 Oshōgatsu) ngày lễ gần như đóng cửa hoạt động kinh doanh của cả nước từ 30 tháng Mười hai đến 3 tháng Một. Người Nhật hướng về quê nhà đoàn tụ với gia đình (khiến cho ùn tắc giao thông), ăn những món ăn truyền thống và đi lễ chùa tại các ngôi đền chùa gần nhà đúng thời khắc nửa đêm để cầu nguyện cho Năm Mới. Cũng có nhiều người Nhật thường xuyên du lịch nước ngoài trong dịp này, với một mức giá máy bay rất cao.

Vào tháng Ba hoặc tháng Tư, người Nhật đồng loạt đổ ra ngoài trong lễ hanami (花見, nghĩa là “Ngắm hoa”), một lễ hội của những chuyến dã ngoại ngoài trời và những cuộc chè chén say sưa trong công viên, được ngụy trang một cách khôn ngoan dưới hình thức ngắm hoa anh đào nở. Thời gian chính xác hoa anh đào nở thay đổi theo từng năm và các kênh TV của Nhật Bản liên tục bám sát quá trình hoa anh đào nở từ Nam tới Bắc rất sát sao.

Kỳ nghỉ lễ dài nhất là Tuần lễ Vàng – Golden Week (Từ 27 tháng Tư đến 6 tháng Năm) với bốn ngày nghỉ chính thức trong vòng một tuần và sau đó mọi người cứ tiếp tục tự kéo dài kỳ nghỉ. Các chuyến tàu thì chật kín, còn giá máy bay và khách sạn bị đội lên gấp nhiều lần so với thông thường, khiến cho thời gian này trở thành khoảng thời gian rất tệ để du lịch ở Nhật Bản , tuy nhiên những tuần lễ ngay trước hoặc ngay sau Tuần lễ Vàng đều là những sự lựa chọn tuyệt hảo.

Mùa hè đến đem theo hàng đống các lễ hội được tổ chức để giúp người ta quên đi thời tiết nóng ẩm khó chịu (ngang với miền Trung Tây Hoa Kỳ). Có các lễ hội địa phương (祭 matsuri) và những cuộc thi pháo hoa (花火 hanabi) cực ấn tượng trên khắp cả nước. Lễ hội Tanabata (七夕), tổ chức vào ngày 7 tháng Bảy (hoặc đầu tháng Tám ở một số nơi), kỷ niệm câu chuyện về đôi tình nhân bất hạnh chỉ có thể được gặp nhau vào ngày này.

Lễ hội mùa hè lớn nhất là lễ hội Obon (お盆), được tổ chức vào giữa tháng Bảy ở Đông Nhật Bản (Kanto) và lễ hội Trung thu ở Tây Nhật Bản (Kansai), là dịp để bày tỏ lòng kính trọng với những linh hồn tổ tiên đã mất. Mọi người đều trở lại quê nhà và đi thăm các nghĩa trang trong làng, khiến giao thông trở nên ùn tắc.

Các ngày nghỉ lễ quốc gia

Danh sách sau đây là lịch chính xác cho năm 2012, trong đó những ngày lễ âm lịch như các ngày thu phân hay xuân phân có thể chênh nhau từ 1 đến hai ngày. Những ngày lễ rơi vào ngày cuối tuần có thể được nghỉ bù vào ngày thứ Hai sau đó. Lưu ý là phần lớn người Nhật đều nghỉ quá thời gian trong các dịp Năm mới, Tuần lễ Vàng và lễ hội Obon. Kỳ nghỉ lễ quan trọng nhất là Tết Năm Mới, thời gian đó nhiều cửa hiệu và nhà hàng đóng cửa ít nhất là 2 ngày, vì thế có lẽ đây không phải là thời gian lý tưởng để thăm thú. Tuy nhiên, những cửa hàng tiện ích vẫn tiếp tục mở cửa và rất nhiều đền chùa tổ chức các hội chợ Năm mới, vậy nên cũng không quá khó để tìm đồ ăn.
• 1 tháng Một – Năm Mới (ganjitsu 元日 hay gantan 元旦 )
• 2 và 3 tháng Một –Ngày nghỉ Năm Mới của các Ngân hàng
• 9 tháng Một (Ngày thứ Hai thứ hai của tháng) – Ngày lễ Trưởng thành (seijin no hi 成人の日)
• 11 tháng Hai – Ngày Quốc khánh (kenkoku kinen no hi 建国記念の日)
• 20 tháng Ba – Ngày Xuân phân (shunbun no hi 春分の日)
• 29 tháng Tư – Ngày Showa (showa no hi 昭和の日) – ngày nghỉ đầu tiên của Tuần lễ Vàng
• 30 tháng Tư – Kỉ niệm ngày Showa
• 3 tháng Năm – Ngày Hiến pháp (kenpō kinnenbi 憲法記念日)
• 4 tháng Năm – Ngày Cây Xanh (midori no hi みどりの日)
• 5 tháng Năm – Ngày Thiếu nhi hay Ngày Trẻ em (kodomo no hi こどもの日) – ngày nghỉ cuối cùng của Tuần lễ Vàng
• 16 tháng Bảy (Ngày thứ Hai thứ 3 của tháng) – Ngày của Biển (umi no hi 海の日)
• 17 tháng Chín (ngày thứ Hai thứ 3 của tháng) – Ngày Kính trọng Người già (keirō no hi 敬老の日)
• 22 tháng Chín – Thu phân (shuubun no hi 秋分の日)
• 8 tháng Mười (ngày thứ Hai thứ 2 của tháng) – Ngày Thể Thao (taiiku no hi 体育の日)
• 3 tháng Mười Một – Ngày Văn hóa (bunka no hi 文化の日)
• 23 tháng Mười Một – Ngày Cảm tạ người Lao động (kinrō kansha no hi 勤労感謝の日)
• 23 tháng Mười Hai – Ngày sinh nhật Thiên hoàng (tennō tanjōbi 天皇誕生日)
• 24 tháng Mười Hai – kỉ niệm sinh nhật Thiên hoàng
• 31 tháng Mười Hai – Ngày nghỉ Năm mới 2013 của các Ngân hàng
• 1 tháng Một năm 2013 – Tết Năm mới
• 2 và 3 tháng Một năm 2013 – Ngày nghỉ Năm mới 2012 của các Ngân hàng

Lịch Nhật Bản

Năm niên hiệu, được tính từ năm Thiên hoàng lên ngôi, thường được sử dụng để chỉ ngày tháng ở Nhật Bản, bao gồm cả trong lịch trình giao thông và biên lai mua bán. Niên hiệu hiện nay là Heisei (平成) và là Heisei 24 tính đến năm 2012. Năm được viết là “H24” hoặc chỉ cần viết “24”, vì thế “24/4/1” nghĩa là ngày mồng 1 tháng Tư năm 2012. Năm theo lịch phương Tây cũng được biến đến rộng rãi và thường xuyên sử dụng.

Tôn giáo

Nhật Bản có hai tín ngưỡng tôn giáo chính, trong đó Thần Đạo Shinto (神道) là một tôn giáo tâm linh cổ truyền thống của Nhật. Đạo Phật, trải qua hơn một nghìn hai trăm năm ở Nhật Bản, là tôn giáo được du nhập vào muộn hơn. Thiên chúa giáo, được đưa vào bởi những người truyền giáo phương Tây, bị chối bỏ trong thời phong kiến nhưng giờ đây đã được chấp nhận, và hiện nay có một nhóm nhỏ người Nhật Bản đang theo Thiên chúa giáo.

Nói chung, người Nhật không phải là những người quá mộ đạo. Mặc dù họ thường xuyên đi thăm miếu và đền chùa để đóng góp tiền công đức và cầu nguyện thì những học thuyết và tín ngưỡng tôn giáo nếu có cũng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong đời sống của đại đa số người Nhật Bản. Vì thế sẽ không thể tính phần trăm dân số theo đạo Shinto hay đạo Phật là bao nhiêu, hay ngay cả Thiên chúa giáo cũng vậy. Theo một cuộc điều tra nổi tiếng, Nhật có 80% người theo đạo Shinto và 80% theo đạo Phật, và có một câu nói hay được nhắc đến là người Nhật Bản theo đạo Shinto khi họ còn sống, bởi vì các lễ cưới và lễ hội là đặc trưng của đạo Shinto, nhưng lại theo đạo Phật khi họ chết, vì các đám tang thường dùng các nghi lễ đạo Phật. Hầu hết người Nhật tiếp nhận mỗi thứ tôn giáo một ít. Đạo Thiên chúa giáo gần như chỉ thể hiện rõ nhất trong kinh doanh thương mại. Cứ đến dịp Giáng sinh, những ông già Noel đủ hình thái, những cây thông Noel và các biểu tượng Giáng sinh phi tôn giáo khác đều được trưng bày trong các khu trung tâm mua sắm và thương mại khắp các khu vực trung tâm.

Cả đạo Shinto và đạo Phật đều có tầm ảnh hưởng to lớn lên lịch sử và đời sống văn hóa của nước Nhật. Đạo Shinto tập trung hướng tới linh hồn của đất, thể hiện rõ qua các công viên tuyệt đẹp và những miếu thờ yên bình nằm sâu trong các khu rừng cổ. Khi bạn đến thăm một ngôi miếu (jinja 神社) có một cái cổng torii (鳥居) giản dị, bạn sẽ nhận ra tục lệ và nét đặc trưng của đạo Shinto. Nếu bạn thấy một mảnh đất trống với một vài mảnh giấy nhỏ được treo lên thành một hình vuông, thì đó chính là một nghi lễ trong Đạo Shinto hiến dâng mảnh đất để xây một tòa nhà mới. Đạo Phật ở Nhật Bản qua nhiều thế kỉ đã phân nhánh ra thành nhiều tông phái. Nichiren (日蓮) hiện nay là tông phái lớn nhất của đạo Phật. Người phương Tây có lẽ quen thuộc hơn với Thiền Tông (禅) (Zen Buddhism), được đưa vào Nhật Bản trong thế kỷ thứ 14 và 15. Thiền Tông phù hợp với những nhận thức đạo đức và thẩm mỹ của người Nhật cổ, ảnh hưởng đến những nghệ thuật như nghệ thuật cắm hoa (生け花 ikebana), trà đạo (茶道 sadō), đồ gốm, vẽ tranh, nghệ thuật viết chữ đẹp, làm thơ và võ thuật. Trải qua nhiều năm, đạo Shinto và đạo Phật đã gắn kết khá gần gũi với nhau. Bạn sẽ thấy hai đạo này tồn tại song song cùng nhau tại các thành phố, thị trấn và trong cuộc sống hàng ngày. Không hề lạ chút nào nếu thấy một chiếc cổng torii đơn sơ theo phong cách đạo Shinto đứng trước một ngôi chùa (o-tera お寺) được trạm trổ kĩ lưỡng.

Giải trí

Hát karaoke (カラオケ) được phát minh ra tại Nhật và có thể được tìm thấy ở hầu hết các thành phố. Karaoke được phát âm là kah-rah-oh-keh, là rút gọn của từ “Vắng ban nhạc” trong tiếng Nhật – rất nhiều người bản xứ sẽ không biết bạn đang nói về cái gì nếu bạn phát âm theo tiếng Anh là keh-ree-oh-kee. Hầu hết các quán karaoke đều choán đến vài tầng của một tòa nhà. Bạn cùng bạn bè sẽ có một phòng riêng – không có người lạ – và mức giá chuẩn tính theo giờ thường đã bao gồm cả đồ uống không giới hạn, muốn yêu cầu thêm thì gọi qua một chiếc điện thoại trên tường hoặc gọi luôn qua máy karaoke. Tất cả những cửa hàng lớn đều có tuyển tập những bài hát Tiếng Anh hay. Những người lớn tuổi thích hát những bản ballads enka ở những quán rượu nhỏ gần nhà hơn.

Ngoài ra thì những tiệm pachinko cũng có mặt ở khắp nơi. Pachinko là một dạng trò chơi ăn tiền yêu cầu phải đẩy được một quả bóng thép nhỏ lăn vào trong một chiếc máy; tiền thưởng sẽ tùy thuộc vào khu vực mà quả bóng lăn vào. Không khí trong hầu hết các tiệm pachinko rất đều độc hại đến từ khói thuốc lá, mồ hôi và sự tuyệt vọng – chưa kể đến cả những âm thanh chói tai. Hãy bỏ qua trò chơi này. Những khu giải trí trò chơi điện tử, tuy đôi khi rất khó phân biệt với cửa tiệm pachinko khi nhìn từ bên ngoài, có những trò chơi điện tử hẳn hỏi chứ không phải những trò bài bạc, và thường cao đến vài tầng nhà.

Trò chơi dân tộc của Nhật Bản cờ vây Go (囲碁 igo), một trò chơi trí tuệ trên bàn cờ bắt nguồn từ Trung Quốc. Không phải là ai cũng chơi trò này, nhưng trò chơi này có những chuyên mục riêng trên những trang báo, trên TV và có cả những người chơi chuyên nghiệp. Trò chơi này cũng được chơi ở phương Tây, và có một trang wiki bằng Tiếng Anh rất lớn và sôi động nói về nó. Vào những ngày nắng đẹp thì khu Tennoji ở Osaka là một nơi lý tưởng để tham gia vào đám đông đang theo dõi hai bậc thầy cờ vây thi đấu. Ngoài cờ vây ra, một loại cờ phổ biết khác ở Nhật Bản là shogi (将棋), hay cờ Nhật.

Mạt chược (麻雀 mājan) cũng khá phổ biến ở Nhật, thường có trên các trò chơi điện tử hoặc arcade game của Nhật mặc dù nó có liên quan đến bài bạc bất hợp pháp và những tiệm mạt chược thì khá là cũ kỹ. Dù luật chơi khá giống với các phiên bản của Trung Quốc, cách tính điểm lại có những sự khác biệt rất lớn.
Bóng chày cực kì phổ biến ở Nhật Bản và sự phổ biến này đã có từ rất lâu (lần đầu tiên bóng chày được đưa vào Nhật Bản là khoảng những năm 1870 bởi một giáo viên người Mỹ). Người hâm mộ môn bóng chày khi đi khắp nơi trên thế giới có lẽ sẽ nhận ra rằng Nhật Bản là một trong số những ví dụ điển hình cho sự phổ biến của bóng chày bền ngoài nước Mỹ. Bóng chày không chỉ được chơi ở nhiều trường phổ thông và bởi các vân động viên chuyên nghiệp, mà còn phổ biến trong văn hóa đại chúng Nhật Bản. Hơn nữa, nhiều cầu thủ Nhật Bản đã tiến tới trở thành những cầu thủ hàng đầu trong Giải bóng chày Major League Baseball. Mùa giải bóng chày chính thức của Nhật là giải Bóng chày Chuyên nghiệp Nhật Bản (Nippon Professional Baseball), hay gọi đơn giản là Puro Yakyū (プロ野球), nghĩa là Bóng chày Chuyên nghiệp. Những du khách yêu thích bóng chày có thể theo dõi những trận đấu bóng chuyên nghiệp cùng với một người bạn hay dân bản xứ, chỉ cần chắc chắn rằng bạn đã đặt trước vé xem. Luật bóng chày ở Nhật Bản không khác nhiều lắm so với của Mỹ, mặc dù cũng có một vài khác biệt nhỏ. Đội bóng chày quốc gia Nhật Bản cũng được cho là một trong những đội tuyển mạnh nhất thế giới, đã giành chiến thắng trong giải World Baseball Classic đầu tiên năm 2006 và trong lần thứ hai vào năm 2009.

Ngày nay, hoạt hình chiếu trên TV cũng được yêu thích ở Nhật Bản, nhất là với những fan cuồng gọi là otaku. Mặc dù trước kia hoạt hình TV được coi là của trẻ con, ngày nay nhiều người lớn cũng như trẻ em Nhật đều thấy nó rất hấp dẫn và coi đó là một nét văn hóa đáng tự hào của họ.

Khí hậu

Người Nhật tự hào về bốn mùa trong năm của họ (và một lượng đáng kể trong số đó tin tưởng chắc chắn rằng các hiện tượng trong mùa là điểm độc đáo riêng của Nhật), nhưng khách du lịch có lịch trình đi lại linh hoạt thì nên đến vào mùa xuân hoặc mùa thu.
• Mùa xuân là một trong những thời điểm lý tưởng nhất trong năm để đến Nhật. Nhiệt độ ấm áp nhưng không nóng, cũng không có quá nhiều mưa. Tháng Ba - tháng Tư đến cùng lễ hội hoa anh đào nở nổi tiếng (sakura) và là thời gian của các cuộc chè chén và hội hè.
• Mùa hè bắt đầu với một đợt mưa ảm đạm (gọi là tsuyu hoặc baiu) vào tháng Sáu rồi chuyển thành một lò hấp hơi vào tháng Bảy và tháng Tám, với độ ẩm và nhiệt độ cao nhất lên tới 40oC. Hãy tránh thời gian này ra hoặc đi đến phía Bắc Hokkaido hay các vùng núi Chubu và Tohoku để tránh nóng. Tuy nhiên có cái hay là một loạt các buổi biểu diễn pháo hoa (花火大会 hanabi taikai) và các lễ hội lớn nhỏ sẽ diễn ra vào thời gian này.
• Mùa thu, bắt đầu vào tháng Chín, cũng là một thời điểm tuyệt vời để đến Nhật. Nhiệt độ và độ ẩm dễ chịu hơn, có nhiều ngày đẹp trời và những sắc màu mùa thu cũng ấn tượng không kém sắc hoa anh đào nở. Tuy nhiên, vào đầu thu, các cơn bão thường đổ bộ vào các vùng phía Nam Nhật Bản và khiến cho mọi hoạt động bị ngừng trệ.
• Mùa đông là thời điểm thích hợp để đi trượt tuyết và tắm nước nóng, nhưng vì một số tòa nhà thiếu hệ thống sưởi trung tâm nên có thể sẽ cực kỳ lạnh khi ở trong nhà. Đi về phía Nam đến Okinawa sẽ dễ chịu hơn một chút. Ở Hokkaido và phía Bắc Nhật Bản thường có tuyết rơi mạnh do những cơn gió lạnh thổi từ Siberia. Lưu ý là trên bờ biển Thái bình dương phía Đông đảo Honshu (nơi tập trung hầu hết các thành phố lớn) mùa đông ấm áp hơn là trên bờ biển ở Biển Nhật Bản phía Bắc: Trời có thể có tuyết ở Kyoto nhưng ở Osaka cách một giờ chạy xe, trời lại chỉ đầy mây và có mưa rải rác.

Đọc thêm

Có vô số sách viết về Nhật Bản. Một số cuốn rất hay những cũng có cuốn không được tốt cho lắm. Tốt nhất là bắt đầu với một trong số các danh sách sách hay được giới thiệu trên trang Amazon hay các trang khác như The Crazy Japan Times, Japan Review hoặc Japan Visitor. Một số những sách nên đọc gồm có:
• Untangling My Chopstics của Victoria Abbott Riccardi. Bối cảnh chủ yếu ở Kyoto.
• My Mother is a Tractor (Mẹ tôi là chiếc máy kéo) của Nicholas Klar, nguyên là giáo viên Tiếng Anh với cái nhìn đầy trí tuệ và chứa đựng nhiều thông tin về xã hội Nhật Bản. Được viết từ những vùng sâu thẳm nhất của nông thôn Nhật Bản.
• Hitching Rides with Buddha của Will Ferguson, viết về một giáo viên tiếng Anh người Canada đã đi nhờ xe trong suốt cuộc hành trình tại Nhật Bản, dõi theo mùa hoa anh đào nở. Lúc thì rất hài hước vui nhộn, lúc lại cực kỳ nghiêm túc, cuốn sách đem đến một đánh giá rất chân thật về tất cả các khía cạnh của văn hóa Nhật Bản.
• Culture Shock: Japan. Là một phần của bộ sách “Culture Shock”, đây là một cách nhìn thú vị về văn hóa và lối sống của người Nhật Bản. Một nguồn tham khảo tốt cho những chuyến đi dài hoặc những chuyến công tác làm việc tại Nhật Bản hay ngay cả cho những lần gặp gỡ với người Nhật.
• All-You-Can Japan của Josh Shulman là một hướng dẫn du lịch độc đáo tới Nhật Bản, cung cấp những cách đi lại tiết kiệm và khôn ngoan nhiều hơn là đề cập đến những điểm tham quan. Tác giả được sinh ra và lớn lên ở Nhật Bản và viết những chỉ dẫn ngắn gọn này bằng một ngôn ngữ đời thường dễ đọc.
Các khu vực
Theo quy ước Nhật Bản được chia làm chín khu vực, được liệt kê dưới đây theo hướng từ Bắc tới Nam:
• Hokkaido: là đảo cực Bắc và vùng biên giới đầy tuyết của Nhật. Nổi tiếng về những không gian rộng thoáng và mùa đông lạnh giá.
• Tohoku (Aomori, Iwate, Akita, Miyagi, Yamagata, Fukushima): hầu hết là nông thôn, nằm về phía Đông Bắc của đảo chính Honshu, nổi tiếng về hải sản, trượt tuyết và suốt nước nóng.
• Kanto (Ibaraki, Tochigi, Gunma, Saitama, Chiba, Tokyo, Kanagawa): vùng đồng bằng ven biển trên đảo Honshu, bao gồm thành phố Tokyo và Yokohama.
• Chubu (Niigata, Toyama, Ishikawa, Fukui, Yamanashi, Nagano, Shizuoka, Aichi, Gifu): khu vực đồi núi giữa đảo Honshu, bị chế ngự bởi dãy núi Alps Nhật Bản và có thành phố lớn thứ tư Nhật Bản Nagoya.
• Kansai (Shiga, Mie, Kyoto, Osaka, Nara, Wakayama, Hyogo): khu vực phía Tây của đảo Honshu, trung tâm văn hóa và thương mại cổ xưa, bao gồm các thành phố Osaka, Kyoto, Nara và Kobe.
• Chugoku (Tottori, Shimane, Okayama, Hiroshima, Yamaguchi): vùng cực Tây Nam của đảo Honshu, một vùng quê nổi tiếng với các thành phố Hiroshima và Okayama.
• Shikoku (Kagawa, Ehime, Tokushima, Kochi): là đảo nhỏ nhất trong bốn đảo chính, là điểm đến của các tín độ đạo Phật, và có đội đua thuyền vượt thác (white-water rafting) giỏi nhất Nhật Bản.
• Kyushu (Fukuoka, Saga, Nagasaki, Oita, Kumamoto, Miyazaki, Kagoshima): đảo cực Nam trong số bốn đảo chính, là cái nôi của văn minh Nhật Bản, thành phố lớn nhất là Fukuoka và Kitakyushu.
• Okinawa: Dãy đảo phía Nam có khí hậu cận nhiệt đới hướng về phía Đài Loan; trước kia là vương quốc Ryukyu độc lập cho đến khi bị Nhật Bản thôn tính vào năm 1879, phong tục và kiến trúc truyền thống của vùng này khác rất nhiều so với các nơi khác của Nhật Bản.

Phân cấp hành chính

Thành phố

Nhật Bản có hàng nghìn thành phố, dưới đây là chín thành phố quan trọng nhất dành cho khách du lịch.
Tokyo – thủ đô và trung tâm tài chính chính, hiện đại và dân cư đông đúc.
Hiroshima – thành phố cảng lớn, thành phố đầu tiên bị phá hủy bởi bom nguyên tử.
Kanazawa – thành phố lịch sử nằm trên bờ biển phía Tây.
Kyoto – thủ đô cũ của Nhật Bản, được xem là trung tâm văn hóa của đất nước với rất nhiều đền chùa cổ và công viên.
Nagasaki – thành phố cảng cổ xưa nằm ở Kyushu, thành phố thứ hai bị phá hủy bởi bom nguyên tử.
Nara – kinh đô đầu tiên của Nhật Bản thống nhất, với rất nhiều miếu thờ Phật và các tòa nhà lịch sử.
Osaka – thành phố rộng lớn và năng động nằm ở vùng Kansai.
Sapporo – thành phố rộng lớn nhất Hokkaido, nổi tiếng về lễ hội tuyết.
Sendai – thành phố rộng lớn nhất trên vùng Tohoku, được biết đến là thành phố rừng do có những đại lộ trồng cây thẳng tắp và những ngọn đồi phủ xanh.

Những địa điểm khác

Xem thêm Japan's Top 3 để biết thêm một số địa điểm giữ vị trí cao theo đánh giá của chính người Nhật, và xem trang Off the beaten track in Japan để lựa chọn điểm đến lý thú nhưng ít được biết đến trên đất nước này.
• Dewa Sanza – ba ngọn núi thiêng thường được những người mộ đạo và người tu hành lui tới, nằm ở bờ biển Tây Tohoku.
• Dãy núi Alps Nhật Bản – dãy núi cao đỉnh phủ tuyết ở trung tâm Honshu.
• Miyajima – ngay cạnh Hiroshima, điểm đến của những chiếc cổng torii đặc trưng nổi trên mặt nước.
• Núi Phú Sĩ – ngọn núi lửa biểu tượng của Nhật có đỉnh phủ tuyết và có độ cao cao nhất Nhật Bản (3776m)
• Núi Koya – trung tâm của phái Chân Ngôn Tông tại Nhật nằm trên đỉnh núi này.
• Đảo Sado – một hòn đảo gần Niigata, trước kia là quê hương của những người ly hương và tù nhân, hiện nay là một nơi trốn tránh mùa hè lý tưởng.
• Công viên Quốc gia Shiretoko – vùng đất hoang dã chưa bị tác động nằm ở điểm cực Đông Bắc Hokkaido.
• Quần đảo Yaeyama – miền đất xa nhất của Okinawa với những chuyến lặn biển, những bãi biển và thám hiểm rừng rậm kỳ thú.
• Yakushima – kì quan thiên nhiên thế giới UNESCO với những khu rừng nguyên sinh mờ sương và những cây tuyết tùng khổng lồ.

Nhập cảnh

Xin visa

Công dân của 61 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm hầu hết các nước phương Tây, có thể lấy giấy chứng nhận tư cách nhập cảnh (landing permission) khi đến mà không cần visa. Giấy phép này thường có hiệu lực tới 90 ngày, nhưng công dân một số nước châu Âu và công dân Mexico được phép ở đến 180 ngày nếu khi nhập cảnh họ giải thích được lý do phải ở lại lâu hơn. Tất cả công dân quốc tịch khác phải lấy visa lưu trú tạm thời (temporary visitor visa) trước khi đến, và visa này thường có hiệu lực 90 ngày. Bộ Ngoại giao có một trang web Hướng dẫn đối với Visa Nhật Bản trực tuyến. Chú ý rằng không cần visa khi quá cảnh trong cùng một ngày giữa các chuyến bay quốc tế ở cùng một sân bay, miễn là bạn không rời khỏi khu vực kiểm soát.

Người Việt Nam có thể xin các loại visa Nhật Bản như: visa ngắn hạn (thăm người thân, gia đình, họ hàng có quan hệ 3 đời; thăm người quen, bạn bè/ du lịch; thương mại, hội nghị) và visa dài hạn (du học, học Tiếng Nhật, vợ/chồng người Nhật, visa lao động…). Tài liệu chuẩn bị cho việc xin visa tùy thuộc vào từng loại visa, trong đó có những tài liệu cơ bản:
• Hộ chiếu
• Tờ khai xin cấp Visa
• 01 ảnh 4,5cm , 4,5 cm
Đối với visa dài hạn, bắt buộc phải có Giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú tại Nhật. Ngoài ra còn có loại Visa khám chữa bệnh, cấp cho những bệnh nhân muốn sang Nhật để chữa trị y tế. Visa này còn được cấp cho người thân đi kèm nếu cần thiết. Lệ phí cho visa hiệu lực 1 lần là 750.000VNĐ; cho visa hiệu lực nhiều lần là 1.500.000VNĐ. Mọi thông tin về visa cho người Việt Nam có thể xem thêm tại Website của Đại sứ quán Nhật.
Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam:
Địa chỉ: 27 Liễu Giai, Quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 84-4-3846-3000
Fax: 84-4-3846-3043
Thời gian làm việc
Thứ hai ~ Thứ sáu : 8:30 ~ 17:15
Giờ mở cửa lãnh sự: 8:30 ~ 12:00
13:30 ~ 16:45
Giờ làm việc của cửa Visa : 8:30 ~ 11:30 ( Nhận hồ sơ )
13:30 ~ 16:45 ( Trả kết quả)
Tất cả người nước ngoài (trừ những ai đi công tác chính phủ và một số công dân thường trú) từ 16 tuổi trở lên khi nhập cảnh phải cung cấp dấu vân tay điện tử và ảnh khuôn mặt. Sau đó có thể sẽ phải trả lời một cuộc phỏng vấn ngắn từ cán bộ kiểm tra nhập cảnh. Việc nhập cảnh sẽ bị từ chối nếu bạn không tuân theo bất cứ thủ tục nào nêu trên.

Khách du lịch tới Nhật Bản hơn 90 ngày cần phải có Giấy chứng nhận Đăng ký Người nước ngoài – Certificate of Alien Registration (thường được gọi là thẻ gaijin) trong vòng 90 ngày ở đây và mang nó theo mọi lúc mọi nơi để thay thế cho hộ chiếu. Những ai ở lại 90 hoặc ít hơn 90 ngày có thể làm đăng kí này, nhưng không bắt buộc. Thẻ này phải được nộp lại khi ra khỏi Nhật Bản, trừ khi có trong tay Giấy phép tái nhập cảnh.

Một vấn đề hải quan gây khó khăn cho một số khách du lịch không cẩn thận là một số loại thuốc bán không cần đơn của bác sĩ như thuốc chống xung huyết (Actifed, Sudafed, ống hít Vicks) và codeine (một số loại thuốc giảm ho) bị cấm ở Nhật Bản. Một số thuốc mua theo đơn của bác sĩ (phần lớn là những thuốc giảm đau loại mạnh) cũng bị cấm ngay cả khi bạn có đơn thuốc, trừ khi bạn có sự cho phép đặc biệt từ trước. Bạn có thể xin giấy phép để được mang theo những ống tiêm đã bơm sẵn thuốc như EpiPens và các loại tương tự. Không biết không được coi là một lý do, và bạn có thể sẽ bị giam và trục xuất nếu bị bắt gặp vi phạm. Xem thêm Japan Customs để biết thêm chi tiết, hoặc kiểm tra lại với đại sự quán hay tòa lãnh sự Nhật Bản gần nhất.

Một khi đã đến Nhật Bản rồi thì bạn phải luôn luôn mang theo hộ chiếu (hoặc Thẻ Đăng ký Người nước ngoài, nếu được). Nếu trong một đợt kiểm tra ngẫu nhiên bạn bị bắt gặp không có hộ chiếu (những cuộc vây bắt tại câu lạc bộ đêm không phải là hiếm), bạn sẽ bị tạm giữ cho đến khi có người mang nó đến cho bạn. Người vi phạm lần đầu và biết lỗi thường sẽ được thả ra kèm lời cảnh cáo, nhưng theo lý thuyết, bạn có thể bị phạt tới ¥200.000.

Đi bằng máy bay

Phần lớn những chuyến bay giữa các châu lục đều hạ cánh tại Sân bay Narita (NRT) gần Tokyo hoặc Sân bay Kansai (KIX) gần Osaka; một số ít khác dùng Sân bay Quốc tế Chubu (NGO) gần Nagoya. Tất cả ba sân bay này đều cách rất xa trung tâm thành phố, nhưng được kết nối với hệ thống đường tàu khu vực và cũng có rất nhiều dịch vụ xe bus đến những địa điểm gần đó. Một sân bay khác của Tokyo là Sân bay Haneda (HND) chủ yếu vẫn dành cho những chuyến bay nội địa nhưng hiện nay đã bắt đầu đảm trách ngày càng nhiều các chuyến bay quốc tế của Narita.
Hầu như mọi thành phố tầm cỡ đều có sân bay, mặc dù phần lớn chỉ cung cấp những chuyến bay nội địa và một vài đường bay tới Trung Quốc và Hàn Quốc. Một sự lựa chọn phổ biến cho du khách đến những thành phố này là bay chuyển tiếp qua Seoul bằng Korean Air hoặc Asiana Airlines, như vậy có thể còn rẻ hơn là chuyển tiếp ở Nhật.

Cả Sân bay Narita và Kansai nói chung đều khá thoải mái và không quá đông đúc, miễn là bạn tránh xa những đợt nghỉ lễ chính – ví dụ như Năm Mới (cuối tháng Mười Hai đầu tháng Một), Tuần lễ Vàng (cuối tháng Tư đầu tháng Năm), và Obon (giữa tháng Tám) - lúc này mọi thứ đều trở nên náo nhiệt và đắt đỏ.
Hai hãng hàng không lớn của Nhật Bản là Japan Airlines (JAL) và All Nippon Airways (ANA). Delta Air Lines, United Airlines và American Airlines cũng là những hãng trung chuyển tầm cỡ ở Narita, cung cấp những chuyến bay đến nhiều nơi tại Mỹ và châu Á.

Ba hãng hàng không bay trực tiếp từ Việt Nam đến các thành phố của Nhật Bản là Vietnam Airlines, Japan Airlines và ANA.

Đi bằng tàu

Có một số tàu quốc tế đi đến Nhật Bản. Trừ những tàu đi từ Busan đến Fukuoka và Shimonoseki ra, những tàu khác thường không cạnh tranh được với vé máy bay giảm giá, vì giá vé tàu thường cao, lịch trình không thường xuyên (lại hay thay đổi) và thời gian đi kéo dài. Sơ qua các tàu theo thứ tự mức độ thuận tiện giảm dần là:

Từ Hàn Quốc

• Busan – Fukuoka: Tàu Kyushu JR, điện thoại 092-281-2315 (Nhật Bản) hoặc 051-469-0778 (Hàn Quốc), chạy vài lần một ngày, mất khoảng 3,5 tiếng đồng hồ và giá là ¥13.000 một chiều. Camellia Line; điện thoại 092-262-2323 (Nhật Bản) hoặc 051-466-7799 (Hàn Quốc) chạy tàu mất 8 tiếng và giá là ¥9.000; nếu đi qua đêm, tàu có thể dừng và đợi trước cảng Busan vào buổi sáng cho đến khi Xuất Nhập Cảnh Hàn Quốc mở cửa. (So với hầu hết các sân bay thì đi chuyến tàu này sẽ gặp ít rắc rối về an ninh hơn)
• Busan-Shimonoseki: Tàu Kanbu, điện thoại 0832-24-3000 (Nhật Bản) hoặc 051-464-2700 (Hàn Quốc), hoạt động hàng ngày. 13,5 tiếng đồng hồ; ¥9000+.
• Busan – Osaka: Tuyến Barnstar, điện thoại 06-6271-8830 (Nhật Bản) hoặc 051-469-6131 (Hàn Quốc), 3 chuyến một tuần. 18 tiếng đồng hồ; ¥13.700+.

Từ Trung Quốc

• Thượng Hải – Osaka/Kobe: Tàu Japan - China, điện thoại 078-321-5791 (Nhật Bản) hoặc 021-6326-4357 (Trung Quốc), 3 chuyến một tuần. 45 tiếng; 17.000 Nhân dân tệ nếu xuất phát từ Trung Quốc và ¥20.000+ nếu xuất phát từ Nhật Bản.
• Thiên Tân – Kobe: Tuyến tốc hành China Express, điện thoại 03-3537-3107 (Nhật Bản) hoặc 022-2420-5777 (Trung Quốc), hoạt động hàng tuần. 50 tiếng; ¥22.000+.
• Thanh Đảo – Shimonoseki: Tàu Orient, điện thoại 083-232-6615 (Nhật Bản) hoặc 0532-8387-1160 (Trung Quốc), 3 chuyến một tuần. 38 tiếng; ¥15,000+.
• Tô Châu – Shimonoseki: Tàu Shanghai-Shimonoseki, điện thoại 083-232-6615 (Nhật Bản) hoặc 0512-53186686 (Trung Quốc), 3 chuyến một tuần. ¥15.000+.

Từ Đài Loan

• Cơ Long (Đài Loan) – Ishigaki/Naha: Tàu Star Cruises, điện thoại +886-2-27819968 (Đài Loan) hoặc +81-3-64035188 (Nhật Bản), tàu không thường xuyên chỉ chạy vào mùa hè cao điểm (Từ tháng Năm đến tháng Chín), không chạy hàng năm. Không bán vé một chiều.
Nga
• Sakhalin – Wakkanai: Tàu Heartland; 5,5 tiếng; ¥21.000+. Dịch vụ tạm dừng từ tháng Mười đến tháng Tư do biển đóng băng.
• Vladivostok-Takaoka (Fushiki): công ty vận chuyển Far East thông qua vận tải United Orient, điện thoại 03-5640-3901 (Tokyo), hoạt động hầu hết các tuần. 42 tiếng; US$320+.

Đi lại

Nhật Bản sở hữu hệ thống giao thông vào hàng tốt nhất thế giới, việc đi lại thường rất dễ dàng và hầu hết là bằng tàu. Mặc dù so với các nước châu Á khách việc đi lại ở Nhật Bản khá đắt đỏ, vẫn có rất nhiều cách giúp bạn giảm thiểu được chi phí.

Để lựa chọn đường đi thông qua lịch trình và giá vé thì Hitachi’s Hyperdia là bạn đồng hành vô cùng quý giá; nó tính toán chính xác cách thức đi lại, kể cả các chuyến tàu chuyển tiếp cũng như xe bus và máy bay. Jorudan có dịch vụ tương tự nhưng có ít lựa chọn thay thế hơn. Phiên bản trên giấy của các trang web này là Daijikokuhyō (大時刻表), một quyển sách có kích thước bằng một cuốn niên giám điện thoại dùng để tra cứu được đặt tại các ga tàu và phần lớn các khách sạn, nhưng nó khá là khó dùng vì toàn bộ nội dung đều được in rất nhỏ bằng Tiếng Nhật. Còn có một phiên bản nhẹ nhàng hơn tại văn phòng nước ngoài của Tổ chức Du lịch Quốc gia Nhật và chỉ bao gồm một số chuyến tàu cao tốc giới hạn (limited express), tàu nằm và tàu bullet (shinkansen). Lịch trình Tiếng Anh được đăng trên các website của JR Hokkaido, JR East, JR Center và JR Kyushu. Lịch trình tàu chạy của Tokai do, San’yo và Kyushu shinkanken bằng Tiếng Anh cũng có thể xem tại trang lịch trình Macoto’s Tabi-o-ji. Cả Hyperdia và Tabi-o-ji đều cung cấp dịch vụ tìm kiếm lịch trình, nhưng không bao gồm dịch vụ Nozomi và Mizuho. Điều này sẽ có lợi đối với nhưng ai có vé Japan Rail Pass (xem bên dưới).

Ở các thành phố Nhật Bản, địa chỉ rất tiện lợi cho việc gửi thư, nhưng hầu như không giúp ích được gì khi muốn tìm nhà. Hầu hết các nhà đều được mô tả dưới dạng khoảng cách đi bộ từ ga gần nhất và khoảng cách so với các địa điểm nổi tiếng tại địa phương. Danh thiếp thường có bản đồ nhỏ in phía sau để dễ tìm kiếm hơn (hay ít nhất là thế nếu bạn có thể đọc được Tiếng Nhật). Ngoài ra, nhiều ga tàu có bản đồ khu vực để giúp bạn tìm ra địa điểm cần đến nếu như nó tương đối gần ga. Dạng địa chỉ đặc trưng sẽ được viết là “1丁目 2-3" or "1-2-3", tức là quận 1, khu 2, số nhà 3.

Đi bằng tàu

Đọc bài đầy đủ về đi tàu ở Nhật Bản tại đây: Đi tàu ở Nhật Bản

Đi bằng máy bay

Hệ thống tàu Shinkansen vượt trội của Japan đồng nghĩa với việc đi bằng máy bay trở nên tốn kém hơn cần thiết. Tuy nhiên, đi máy bay vẫn là cách thuận tiện nhất để đến những đảo xa ở Nhật, đặc biệt để đi lại từ đất liền đến Hokkaido và/ hoặc Okinawa. Đi máy bay cũng rất tiện trong việc đi lại giữa những vùng dân cư thưa thớt Hokkaido, vì ở đó không có mạng lưới tàu Shinkansen.

Sân bay Narita của Tokyo có điều hành một số chuyến bay nội địa, nhưng hầu hết các chuyến nội địa cất cánh từ Sân bay Haneda (HND) ở phía Nam thành phố. Tương tự, mặc dù có một số chuyến bay nội địa bay từ Sân bay Quốc tế Kansai, nhưng hầu hết các chuyến cất cánh từ Itami (ITM) ở phía Bắc Osaka, và có một số chuyến từ sân bay của Kobe. Từ Narita đến Haneda hay từ Kansai đến Itami cũng mất cả chặng đường, vì thế hãy dành ra ít nhất ba tiếng hay tốt nhất là bốn tiếng cho việc di chuyển. Ngoài ra, Chubu có rất nhiều chuyến bay nội địa và được xây dựng hoàn chỉnh cho việc vận chuyển thuận tiện.

Bảng giá của những chuyến bay nội địa khá là đắt, nhưng những khoản chiết khấu lớn sẽ được trừ nếu mua vé trước. Cả hai hãng hàng không lớn nhất Nhật Bản là Japan Airlines (JAL, 日本航空 Nihon Kōkū) và All Nippon Airways (ANA, 全日空 Zennikkū,) đều có loại vé “Visit Japan” cho phép những người mua vé khứ hồi quốc tế đến Nhật có thể bay một số chặng nội địa trên khắp cả nước với giá chỉ khoảng ¥10,000 (cộng thêm tiền thuế) mỗi chuyến. Những vé này là một món hời đối với những người đi đến Hokkaido hoặc những đảo xa ở phía Nam của Okinawa. Đôi khi sẽ có một vài thời kì gián đoạn hoặc một số giới hạn trong mùa du lịch cao điểm.

Khái niệm hãng hàng không giá rẻ vẫn chưa thực sự xâm nhập vào Nhật Bản, nhưng Air DO đã bắt đầu cạnh tranh chuyến Tokyo và Hokkaido, trong khi Skymark Airlines và Star Flyer phục vụ các chuyến bay giữa Tokyo, Osaka và Kyushu. Thường thì những hãng hàng không này có bán loại vé mua vào phút cuối với giá thấp hơn các hãng lớn nhưng vẫn không cạnh tranh bằng vé máy bay được chiết khấu khi đặt trước.

ANA, JAL và các chi nhánh của họ còn cung cấp một loại thẻ dự phòng (standby card) đặc biệt Skymate Card dành cho những khách hàng trẻ (từ 22 tuổi trở xuống). Có hai trường hợp bạn có thể bay standby. Thứ nhất, bạn bị lỡ chuyến bay đầu tiên và cần phải bay standby trên chuyến bay tiếp theo đến cùng một địa điểm. Thứ hai, bạn đến sân bay sớm (có thể cố tình hoặc ngẫu nhiên) và muốn bay chuyến bay trước đó luôn trong ngày. Với loại thẻ này, hành khách có thể bay standby với giá vé chỉ bằng một nửa giá chính thức và thường sẽ rẻ hơn giá vé tàu cao tốc đi chặng tương đương. Bạn có thể làm thẻ này tại bất cứ quầy vé nào của JAL hoặc ANA với một ảnh hộ chiếu và phí đóng một lần ¥1000.

Nếu bạn đi một chuyến bay nội địa trong nước Nhật (ví dụ từ Tokyo đến Osaka) thì đừng quá ngạc nhiên nếu thấy một chiếc Boeing 747 Jumbo Jet được dùng để chở bạn trong chuyến đi ngắn ngủi 50 phút. Nhật Bản nổi tiếng là nước duy nhất trên thế giới sử dụng những chiếc máy bay phản lực jumbo jet cho những chuyến đi nội địa chỉ ngắn 1 giờ hoặc ít hơn, chủ yếu là tuyến bay Tokyo đến Osaka.

Đi bằng tàu thủy

Mặc dù Nhật Bản là một đảo quốc, thật đáng ngạc nhiên là tàu thuyền lại là một phương tiện giao thông không thông dụng cho lắm, vì tất cả những đảo chính đều được nối với nhau bởi cầu và đường hầm. Cũng có một số tàu đường dài nối Okinawa và Hokkaido với đảo chính, nhưng giá vé thì cao hơn so với vé máy bay chiết khấu và chỉ có lợi thế duy nhất đáng kể là bạn có thể mang theo xe ô tô.
Tuy nhiên, đối với một số đảo nhỏ hơn thì tàu lại là lựa chọn khả thi duy nhất. Tàu đệm khí (hovercraft) và tàu cao tốc cánh ngầm đi nhanh nhưng lại đắt, có giá thay đổi trong khoảng từ ¥2000-5000 cho một chuyến đi dài một tiếng đồng hồ. Những tàu chở hàng chậm thì có chi phí chấp nhận được, giá thường khoảng ¥1000 mỗi tiếng đồng hồ đối với khoang hạng hai, nhưng khởi hành không thường xuyên. Cũng có những tàu không đắt lắm và thuận tiện cho những chuyến đi ngắn giữa các thành phố như tàu Aomori-Hakodate.

Những tàu này được chia thành các hạng khoang, trong đó khoang hạng 2 (2等 nitō) chỉ là một khoảng rộng trải chiếu tatami, khoang hạng nhất (1等 ittō) thì cung cấp cho bạn một chiếc ghế thoải mái trong một phòng chung rộng rãi và chỉ có khoang hạng đặc biệt (特等 tokutō) mới cho bạn một phòng riêng biệt. Những máy bán hàng và đồ ăn đơn giản đều có thể tìm thấy trên tàu, nhưng trong những chuyến đi dài (đặc biệt là đối với khoang hạng hai) thì thú giải trí chủ yếu là rượu – nếu bạn được mời tham gia thì sẽ rất vui đấy, trừ khi bạn đang muốn đi ngủ.

Đi bằng xe bus

Xe bus highway

Những chiếc xe bus highway đường dài (高速バス kōsoku basu; ハイウェイバス haiwei basu) phục vụ nhiều tuyến đường giữa các thành phố có các chuyến tàu chạy qua ở mức giá thấp hơn, nhưng lại mất nhiều thời gian hơn tàu Shinkansen. Đặc biệt trên tuyết đường giữa Tokyo và tam giác Kyoto-Osaka-Kobe, cạnh tranh mạnh giữa các hãng đã hạ mức giá xuống còn ¥3500 cho vé một chiều. Có rất nhiều hãng xe, ví dụ như Star Express và Willer Express, Kansai Bus và các công ty thuộc JR Group.

Chú ý rằng JR Rail Pass của bạn có thể dùng được cho các xe bus JR (mặc dù sẽ thật kì cục nếu có vé Rail Pass mà lại chọn xe bus thay cho tàu Shinkansen hay các tàu cao tốc khác cho cùng một hành trình nếu xét về độ thoải mái và tốc độ).
Có nhiều xe bus trong số này là xe chạy qua đêm (夜行バス yakō basu), vì thế giúp bạn tiết kiệm được tiền ngủ nghỉ ban đêm. Rất đáng trả thêm tiền để kiếm được một chỗ ngồi tốt hơn, vì nhớ rằng việc thăm thú ngắm cảnh sẽ kém thú vị hơn nhiều sau một đêm mất ngủ. Để ý tìm dòng chữ 3列シート sanretsu shiito, nghĩa là chỉ có ba ghế một hàng chứ không phải là bốn ghế. Những chiếc xe bus chạy giữa các thành phố thường có ít chỗ để chân hơn là tàu, vì thế hành khách cao hơn 175cm có thể sẽ cảm thấy không thoải mái cho lắm.

Có một vài xe bus có dịch vụ Premium Seating (Ghế ngồi cao cấp) khá đắt. Những ghế này rộng hơn, có chỗ để chân và số lượng có hạn chỉ vài ghế trên một xe. Ví dụ ghế ngồi tầng một trên xe Premium Dream của JR Bus và ghế Cocoon trên xe Willer Express. Giá phải trả cho một chỗ ngồi như vậy trên xe chạy xuyên đêm giữa Tokyo và Kansai là khoảng ¥10000.

Giống như các công ty tàu hỏa, một vài xe bus chạy đêm có thể chỉ dành cho nữ giới. (Ví dụ như xe bus Ladies Dream Osaka chạy giữa Tokyo và Osaka).

Japan Bus Pass

Hãng xe Willer Express phát hành Japan Bus Pass cho việc di chuyển bằng mạng lưới xe bus của họ. Nó được bán cho cả người Nhật và người nước ngoài, những phải được mua ở bên ngoài Nhật Bản. Giá của Bus Pass là ¥10000 cho 3 ngày, ¥12000 cho 4 ngày và ¥14000 cho 5 ngày. Những ngày đi có thể không liên tiếp nhau nhưng Bus Pass phải được sử dụng hết trong vòng 2 tháng. Bạn chỉ được đi tối đa hai chuyến xe bus một ngày và bạn không được đi hai lần trên cùng một tuyến trong một ngày. Pass không chuyển nhượng được và yêu cầu có ảnh căn cước khi lên xe bus.

Nếu bạn có nhiều thời gian và muốn thăm thú một vài thành phố lớn chỉ trong một chuyến đi và không bận tâm đến khoảng thời gian phải dành trên xe bus (bao gồm cả thời gian ngủ) thì Bus Pass rất đáng để xem xét. Bạn càng đi nhiều chuyến thì càng tiết kiệm. Bạn hoàn toàn có thể đi được xe bus Willer Express chỉ với ¥1400-1600 mỗi chuyến.

Có một vài bất tiện nhỏ khi dùng Bus Pass: Bạn chỉ có thể đi những xe bus có 4 ghế một hàng chứ không phải ba (xem thêm phía trên). Bạn cũng không thể dùng Bus Pass trong những ngày lễ chính tại Nhật (Năm Mới, Tuần Lễ Vàng, Obon) và trong một số tuần lễ nhất định chứ không như Japan Rail Pass không có ngày giới hạn.

Xe bus địa phương

Bạn không cần dùng xe bus địa phương (路線バス rosen basu) nhiều lắm trong các thành phố lớn, nhưng chúng lại rất phố biển ở những thị trấn nhỏ và hệ thống thanh toán đặc trưng của nó cần phải được nói tới. Trên hầu hết xe bus, bạn sẽ phải lên từ cửa sau và lấy phiếu đánh số khi lên, thường nó chỉ là một mảnh giấy nhỏ đã được đóng dấu tự động khi lấy ra. Phía trước xe bus, trên người lái xe là một bảng điện tử ghi số và giá vé ở dưới, và giá này sẽ tăng dần khi xe bus đi. Khi phải xuống xe, bạn bấm nút dừng, so số trên phiếu của bạn với giá hiển thị trên bảng điện tử, đặt phiếu và số tiền tương ứng vào chiếc máy thu tiền gần tài xế, sau đó đi ra cửa trước. Chú ý là bạn phải trả chính xác tiền vé, và để thuận tiện thì gần đó luôn có một chiếc máy đổi tiền. Máy này sẽ nhận vào tờ ¥1,000 và đổi lại nhả ra các đồng xu có giá tương đương. Nếu bạn không có tiền lẻ thì nên đổi tiền sẵn trước khi phải xuống xe.

Xe bus đang dần dần chấp nhận thẻ thông minh như PASMO và Suica – bạn chỉ cần quẹt thẻ vào máy quét gần lối lên xe (thường là ở phía trên thùng vé) và lại quẹt lần nữa vào máy quét gần máy thu tiền cạnh tài xe khi xuống. Nếu bạn không quẹt thẻ khi lên, bạn sẽ phải trả mức vé cao nhất khi xuống.

Bảng điện tử hầu hết luôn gồm có một màn hình hiển thị và các đoạn thu âm thông báo bến tiếp theo – thường là bằng Tiếng Nhật, mặc dù ở một vài thành phố (như Kyoto) sẽ có ngoại lệ. Tuy nhiên nếu được nhờ, phần lớn tài xế sẽ sẵn lòng nhắc bạn khi đến nơi bạn cần.

Đi bằng taxi

Bạn sẽ tìm thấy taxi ở khắp nơi trên nước Nhật, không chỉ ở thành phố mà cả ở vùng nông thôn. Taxi rất sạch sẽ và tuyệt đối an toàn, nhưng hơi đắt: giá khởi điểm thường là trong khoảng ¥640-710 và đồng hồ đo tốc độ sẽ nhảy số rất nhanh sau khoảng 2km đầu tiên. Nhưng đôi khi taxi là cách duy nhất có thể đưa bạn đến nơi bạn cần. Đồng hồ đo tốc độ trên taxi được kiểm soát rất nghiêm ngặt và dễ nhìn đối với hành khách. Nếu bạn không chắc là có đủ tiền cho cả chuyến đi, tài xế có thể nói giá ước chừng cho chuyến đi trước, một vài tài xế sẽ dừng lại khi đồng hồ đo tốc độ đang chỉ mức giá đã ước lượng bất chấp còn cách điểm đến bao xa, vì thế có thể tiết kiệm tiền cho bạn. Mặc dù vậy bạn cũng đừng mong mọi tài xế taxi đều hành xử lịch sự như vậy. Giá taxi cũng sẽ cao hơn vào buổi tối. Cho tiền tip không phải là thói quen ở Nhật và hầu hết sẽ bị từ chối.

Ở thành phố, bạn có thể gọi taxi hầu hết ở mọi nơi, nhưng ở phía ngoài ga tàu hoặc những điểm trung chuyển khác bạn nên đợi ở điểm đợi taxi. (Điểm đợi taxi thường có một hàng dài những hành khách kiên nhẫn, hoặc là một hàng dài những chiếc taxi rảnh rỗi). Nếu nơi bạn muốn đi là nơi nổi tiếng, ví dụ như khách sạn, ga tàu hay các tòa nhà công cộng thì chỉ cần nói tên là đủ. Chú ý là ngay cả ở những thành phố lớn, cực kì ít tài xế taxi nói được tiếng Anh, vì thế sẽ rất hữu ích nếu mang theo một cuốn sách giới thiệu hay tấm card nhỏ của khách sạn về điểm đến của bạn với địa chỉ trên đó. Nếu không bạn có thể nhờ nhân viên khách sạn viết tên và địa chỉ của nơi bạn muốn đến bằng Tiếng Nhật để đưa cho tài xế.

Một đặc điểm rất thú vị của taxi Nhật là tài xế sẽ điều khiển đóng mở cửa sau bên trái hành khách. Vì thế cố gắng bỏ thói quen đóng cửa khi lên taxi. Những tài xế taxi cũng nổi tiếng về việc lái xe rất nhanh và liều lĩnh, nhưng lại có rất ít tai nạn liên quan đến tài xế lái ẩu.

Đi bằng xe riêng

Việc thuê xe và lái xe ở Nhật rất hiếm trong phạm vi trong hay xung quanh các thành phố lớn vì đã có phương tiện công cộng cực kì tốt đưa bạn đến hầu hết mọi nơi. Thêm nữa, đường xá ở những thành phố lớn như Tokyo thường có tắc nghẽn giao thông và đỗ xe lại đắt và khó tìm nên việc lái xe ở đây đúng là một cản trở. Tuy nhiên, nhiều khu vực nông thôn có thể sẽ chỉ thực sự được khám phá khi dùng phương tiện riêng, vì thế không nên loại bỏ hoàn toàn việc lái xe khỏi kế hoạch, đặc biệt là ở trên đảo Hokkaido rộng lớn và thưa dân. Do khí hậu ở Hokkaido mát mẻ hơn nên đây là một điểm đến phổ biến vào mùa hè, vì thế nếu bạn đang muốn thuê xe vào thời điểm này thì nên đảm bảo đặt thuê trước khi bạn đến vì thường lúc đó sẽ không còn xe cho thuê nữa. Thường lựa chọn khả thi nhất là kết hợp cả hai phương tiện: bắt tàu đi ra vùng nông thôn rồi sau đó thuê xe ở ga tàu. Ekiren của JR có các đại lý ở hầu hết các ga tàu lớn và thường có gói giảm giá khi đi cả tàu & xe.

Bạn sẽ cần bằng lái xe quốc tế (hoặc bằng của Nhật Bản) nếu muốn thuê xe hay lái xe ở Nhật, và lúc nào cũng phải mang nó bên mình. Giá thuê xe thường bắt đầu với ¥6000/ ngày đối với loại xe nhỏ nhất. Mua bảo hiểm từ công ty cho thuê xe là điều rất nên làm vì mọi bảo hiểm thuê xe ở nước của bạn (đặc biệt là bằng thẻ tín dụng) đều sẽ không có giá trị ở Nhật, vì thế xem lại hợp đồng bảo hiểm trước khi quyết định. Club ToCoo cung cấp dịch vụ đặt trước trên mạng bằng Tiếng Anh từ một số công ty cho thuê xe lớn, và thường có cả những chiết khấu và chính sách cho thuê đặc biệt.

Ở Nhật lái xe về phía bên trái giống như thường thấy ở UK/ Australia/ NZ/ Ấn Độ/ Singapore, ngược lại với châu Âu/ Mỹ/ Canada. Không có quy định “đèn đỏ được phép rẽ phải” (hay rẽ trái) ở Nhật Bản, nhưng trong một vài trường hợp kí hiệu mũi tên màu xanh trên nền trắng có nghĩa là được phép rẽ khi đèn đỏ (đừng nhầm lẫn với mũi tên trắng trên nền xanh chỉ đường một chiều). Lái xe được yêu cầu dừng hẳn xe lại tại điểm dừng nơi giao với đường tàu chạy. Lái xe khi uống rượu có thể bị phạt đến ¥500.000 và bị thu bằng lái ngay tại chỗ nếu lượng cồn trong máu vượt quá giới hạn cho phép là 0.25mg. Lái xe dưới ảnh hưởng của chất kích thích (drive under the influence) cũng là phạm luật với mức phạt có thể lên đến ¥300.000, không có mức phạt tối tiểu, và bị treo bằng lái xe. Sử dụng điện thoại di động trong khi lái xe mà không dùng bộ rảnh tay (hands-free kit) có thể bị phạt đến ¥50,000.

Phí cầu đường trên đường cao tốc (高速道路 kōsoku-dōro) thường cao hơn rất nhiều so với chi phí đi tàu, ngay cả đi tàu bullet. Vì vậy nếu chỉ đi một hai người trên chặng đường dài giữa các thành phố sẽ không tiết kiệm được chi phí. Ở các thành phố lớn như Tokyo và Osaka, bạn sẽ phải trả một mức phí chung khi đi vào hệ thống đường cao tốc. Còn trên những đường cao tốc giữa các thành phố, mức phí được tính dựa trên quãng đường đi, vé sẽ được đưa cho bạn khi đi qua hệ thống và phí sẽ được tính toán khi bạn đi khỏi. Tránh những làn đường ETC (Electronic Toll Collection – Thu phí điện tử) màu tím ở các trạm thu phí (trừ khi bạn có thiết bị ETC hoạt động được) vì chúng được dành cho việc thu phí điện tử, còn các làn đường khác đều chấp nhận trả bằng đồng yên Nhật (không cần thiết phải thu chính xác phần tiền lẻ) hoặc bằng các thẻ tín dụng thông dụng. Những đường cao tốc giữa các thành phố thường được bảo trì tốt với những bãi đỗ xe tiện lợi và sạch sẽ tại các điểm dừng đều nhau, nhưng hãy thận trọng khi đi lại giữa hai thành phố lớn vào tối Chủ nhật hoặc vào cuối các kì nghỉ lễ, vì tại những thời điểm này cứ cách 50 km lại bị tắc nghẽn. Dùng đường nhỏ địa phương để đi lại giữa các thành phố sẽ có lợi thế không phải trả phí và có nhiều cơ hội ngắm cảnh dọc đường đi hơn, nhưng tắc nghẽn giao thông và quá nhiều đèn giao thông khiến cho chuyến đi chậm hơn rất nhiều. Khi lên kế hoạch đi ở những đường địa phương thì lời khuyên là nên đi với tốc độ 40km/h, nhất là ở Hokkaido.

Cả chi phí thuê xe và chi phí xăng dầu đều đắt hơn ở Mỹ, nhưng xăng dầu lại thường rẻ hơn ở châu Âu. Phần lớn trạm xăng đều cung cấp dịch vụ trọn gói, và nếu muốn bơm xăng thường thì nói regulaa mantan với người nhân viên bán xăng. Những công ty cho thuê xe thường sẽ đưa ra mức giá ¥5.000/ ngày với xe nhỏ và ¥10.000 một ngày với xe sedan cỡ lớn. Phần lớn các công ty cho thuê xe đều có hệ thống định vị vệ tinh (“navi”), vì vậy bạn có thể yêu cầu công ty cho thuê xe cài đặt sẵn điểm đến cho chuyến đi đầu tiên của bạn. Một số dòng xe (đặc biệt là các dòng xe Toyota mới) có chế độ Tiếng Anh, vì thế sẽ không mất gì nếu yêu cầu nhân viên đổi chế độ trước khi khởi hành. Tuy nhiên, bạn vẫn nên hỏi trước nhân viên để tận dụng được tối đa thiết bị định vị, trừ khi bạn đọc được tiếng Nhật. Thói quen lái xe của người Nhất nói chung rất tốt và thường tốt hơn các nước châu Á khác. Đường xá ở Nhật nói chung có chất lượng tốt và mặt đường được trải nhựa bitum bằng phằng. Đường rải sỏi rất ít, thường chỉ là đường rừng và sẽ không xuất hiện nhiều trên lộ trình của nhiều khách du lịch. Tuy nhiên công trường trên đường thì có khá nhiều và có thể gây chậm trễ không mong muốn. Một vài đường núi nhất định bị đóng vào mùa đông, còn các đường núi khác sẽ yêu cầu xe phải có xích bọc đi tuyết (snow chains) hoặc phải là loại xe có lốp mùa đông chống trượt kết hợp với dẫn động 4 bánh. Nếu bạn thuê một chiếc xe ở khu vực phía Bắc hoặc các vùng đồi núi thì sẽ có kèm theo luôn các trang thiết bị này.

Tìm đường trong thành phố có thể sẽ khó khăn và đỗ xe mất tới ¥300-400 một giờ. Những khách sạn lớn ở các thành phố và các khách sạn địa phương thường có chỗ đỗ xe, nhưng khôn ngoan hơn cả là nên kiểm tra về chỗ đỗ xe trước khi đặt phòng. Bạn cũng có thể đỗ xe miễn phí ở các bãi đỗ xe của những cửa hàng bách hóa lớn trong các thành phố lớn, nhưng đừng mong chờ sẽ được đỗ xe miễn phí trên 2-3 giờ đồng hồ. Ở Tokyo tốt nhất là nên dùng taxi.

Nhật Bản có hệ thống đèn giao thông ngang với các mũi tên chỉ đường nằm dưới đèn giao thông. Những người mù màu nên chú ý rằng màu đỏ (dừng lại) nằm ở phía bên phải và đèn xanh (đi) nằm ở bên trái. Thường chỉ có một đến hai cột đèn giao thông ở mỗi điểm giao cắt trên cùng một đường, vì thế có thể khó quan sát khi đèn đổi tín hiệu. Tuy nhiên một số quận như Toyama và Niigata có đèn giao thông dọc (có lẽ do ở đây tuyết rơi dầy).

Bảng chỉ dẫn ở Nhật tuân theo cả quy ước của châu Âu và của Bắc Mỹ, nhưng hầu hết không gây khó hiểu gì. Yêu cầu “Dừng lại” được kí hiệu bởi một hình tam giác màu đỏ chỉ xuống, đừng nhầm lẫn với kí hiệu Yield tương tự ở Bắc Mỹ. Trên đường cao tốc và xung quanh các thành phố lớn kí hiệu bằng tiếng Anh rất tốt, nhưng ở những vùng nông thôn thì có thể không đồng nhất. Chỉ dẫn điện tử có ở mọi nơi trên đường cao tốc và các con đường huyết mạch chính, cho biết những thông tin cập nhật hữu ích về tình trạng đường xá, nhưng không may là chúng chỉ được hiển thị bằng Tiếng Nhật. Sau đây là một số những thông báo phổ biến và ý nghĩa của chúng:
• 通行止 – Đường đã bị chặn
• 渋滞 – Tắc đường (đi kèm với độ dài hoặc thời gian tắc)
• 事故 – Tai nạn
• 注意 – Cẩn trọng
• チェーン規制 – Yêu cầu có xích đi tuyết

Những nguy hiểm được cảnh báo do sửa đường, hỏng hóc hay xây dựng đều được chiếu sáng rất rõ vào ban đêm và cũng sẽ xuất hiện ít nhất một lần trước mỗi chướng ngại vật lớn trên những đường đi tốc độ cao, chẳng hạn như đường cao tốc. Những nguy hiểm đường xá khác cần biết đến là taxi - những người luôn tự cho mình quyền dừng ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào họ muốn; từ những chiếc xe tải đường dài (và hoạt động rất muộn vào ban đêm) - những người luôn phải giữ tỉnh táo nhờ vào thuốc kích thích và có xu hướng vượt rất sát những chiếc xe đi chậm phía trước; và những người nông dân trong những chiếc xe tải mini màu trắng thấy ở khắp nơi - những người lúc nào cũng đi chậm rề rề và có thể xuất hiện một cách bất ngờ từ những con đường nhỏ ở hai bên.

Giới hạn tốc độ được ghi chú dưới dạng km/h. Ở các thị trấn thì giới hạn là 40km/h (khác nhau tùy từng vùng: một số là 30, các con đường đông học sinh là 20), ở nông thôn là 50 đến 60km/h (nếu không ghi chú gì thì giới hạn là 60) và trên đường cao tốc là 100km/h. Thường có một phạm vi an toàn về tốc độ, ví dụ trên những đường thông thường thì là 10km/h. Nhưng nếu bạn đi theo dòng xe cộ phía trước thì sẽ chẳng có vấn đề gì cả, vì người Nhật luôn để ý một cách đúng mực đến giới hạn tốc độ.

Đi bằng xe đạp

Nhật Bản có rất nhiều cơ hội tuyệt vời cho người đi xe đạp. Dịch vụ cho thuê xe đạp có thể được tìm thấy trên khắp nước Nhật, nhất là ở gần những tuyến đường chính. Một số tuyến đường (như Shimanami Kaido đi từ đảo chính (Onomichi) đến Shikoku (Imabari)) đã được xây để dành riêng cho xe đạp.

Nếu định dành một thời gian dài ở Nhật, có lẽ bạn sẽ muốn cân nhắc việc mua một chiếc xe đạp. Nếu bạn mua thì cần biết rằng bạn phải đăng kí xe. Nếu không có biển xe, xe của bạn có thể bị tịch thu. Đối với những chiếc xe đạp không phải xe đạp thuê thì điều cần lưu ý là chúng phải được đăng kí dưới tên người lái. Ở Nhật, nếu bạn bị bắt gặp đang lái một chiếc xe đạp được đăng kí dưới tên người khác, đó sẽ bị coi là ăn cắp,và bạn sẽ có thể bị bắt đến đồn cảnh sát. Cảnh sát rất hay kiểm tra xe đạp, vì thế hãy tuân thủ pháp luật để tránh phiền phức.

Xin quá giang

Nhật Bản là đất nước tuyệt vời cho việc quá giang đi nhờ, mặc dù không có thông lệ nào ở Nhật cho việc này, nhưng khả năng nói tiếng Nhật là điều bắt buộc. Xem thêm Hitchhiking in Japan để biết thêm chi tiết và một số mẹo cho nghệ thuật quá giang này.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của Nhật Bản là Tiếng Nhật. Phần lớn những người Nhật dưới 40 tuổi đều đã từng học Tiếng Anh ít nhất 6 năm, nhưng tập trung chủ yếu vào ngữ pháp và viết kiểu hình thức hơn là đối thoại thông thường. Kết quả là ngoài các khu du lịch và các văn phòng chủ yếu dành cho người nước ngoài ra thì rất hiếm khi tìm được một người nói chuyện bằng Tiếng Anh. Tuy nhiên đọc và viết đang có vẻ trở nên tốt hơn, và rất nhiều thanh niên Nhật có thể hiểu Tiếng Anh viết mặc dù không thể nói được. Nếu bị lạc, bạn nên viết câu hỏi ra giấy bằng những từ ngữ đơn giản và đưa nó cho ai đó nhìn trẻ trung chút, tốt hơn hết là học sinh cấp ba hoặc sinh viên, những người này có thể chỉ cho bạn đường đi chính xác. Sẽ rất có ích nếu mang theo một tấm danh thiếp hoặc một bao diêm của một khách sạn để có thể chỉ cho người lái taxi hay ai đó khác nếu bạn bị lạc đường. Hãy làm quen với thực tế rằng sẽ mất khá nhiều thời gian để người Nhật có thể hiểu được điều bạn muốn và giúp đỡ bạn, và vì thế ít nhất hãy cố gắng học những câu chào hỏi cơ bản và lời cảm ơn để khiến họ thấy thoải mái hơn.

Tiếng Nhật có một vài tiếng địa phương khác nhau, mặc dù tiếng Nhật chuẩn (hyōjungo 標準語), trên cơ sở tiếng Tokyo, được dậy ở các trường học và hầu hết người dân trên cả nước đều có thể hiểu. Tiếng địa phương mang nặng sắc thái địa phương vùng Kansai đặc biệt nổi tiếng trong văn hóa đại chúng của Nhật.
Trên quần đảo phía Nam Okinawa, phương ngữ Ryukyua vẫn được sử dụng, phần lớn bởi những người già, trong khi ở phía Bắc Hokkaido một số rất ít người vẫn nói tiếng Ainu.

Tiếng Nhật được viết dựa trên sự kết hợp chặt chẽ của ba hệ chữ khác nhau: kanji (漢字) tức chữ Hán, cùng với chữ hiragana (ひらがな) bản ngữ và chữ katakana (カタカナ) - bộ chữ thực ra được bắt nguồn từ chữ Hán hơn một nghìn năm trước. Tuy nhiên, hiragana và katakana không mang ý nghĩa của các chữ gốc Hán ban đầu mà đã được chuyển hóa và chỉ đơn giản là những âm tiết. Có hàng nghìn chữ kanji được sử dụng trong đời sống hàng ngày và ngay cả người Nhật cũng phải mất đến vài năm để học, trong khi đó chữ kana chỉ có 50 chữ và có thể học không mấy khó khăn. Trong hai bảng chữ cái thì katakana có lẽ có ích hơn cho khách du lịch bởi vì chúng được dùng để viết những từ nước ngoài không phải tiếng Hán, và vì thế có thể dùng nó để đoán từ như basu (バス, xe bus), kamera (カメラ– máy ảnh) hay konpyūtā (コンピューター – máy tính). Tuy nhiên, một số từ như terebi (テレビ– tivi), depāto (デパート– cửa hàng), wāpuro (ワープロ– máy đánh chữ) và sūpā (スーパー– siêu thị) thì sẽ đoán khó hơn. Biết tiếng Hán cũng là một khởi đầu rất tuyệt cho việc chinh phục tiếng kanji, nhưng không phải tất cả các từ đều mang nghĩa như bạn tưởng, ví dụ: 大家 (Tiếng Hán: dàjiā, Tiếng Nhật: ōya), nghĩa là “mọi người” trong tiếng Hán và nghĩa là “chủ nhà” trong tiếng Nhật!

Sử dụng tên người

Họ tên người là một vấn đề phức tạp trong Tiếng Nhật. Sử dụng tên riêng của ai đó khi nói chuyện với họ hay nói về họ được coi là khá thân mật, và chỉ phổ biến trong giới học sinh phổ thông và giữa bạn bè thân. Trong các trường hợp khác, người ta dùng tên họ kèm theo đuôi –san, một tiếp đuôi ngữ có nghĩa giống như “Mr” hay “Ms”. Hầu hết người Nhật đều biết rằng người phương Tây gọi nhau bằng tên riêng, vì thế họ có thể gọi bạn là “John” hay “Mary” mà không có tiếp đuôi ngữ, nhưng để lịch sự bạn vẫn nên gọi họ là “Tanaka-san.” Mặc dù vậy, trong tiếng Nhật, tên thường được tránh nhắc đến bằng cách dùng đại từ hoặc đơn giản là bỏ chúng đi.

“San” là một tiếp đuôi ngữ mặc định, nhưng bạn có thể gặp những cái khác như: -sama (nhưng người trên vai bạn, từ sếp cho đến những vị thần thánh, hoặc ngay cả khách hàng của bạn), - kun (chỉ cấp dưới và những bạn tốt thuộc phái nam), và –chan (gọi trẻ em và bạn thân (thường là nữ)). Để không bị quá suồng sã hay quá kiểu cách, bạn chỉ nên thêm đuôi –san vào khi người ta bảo bạn như vậy.

Ngắm cảnh

Lâu đài

Hầu hết khi nghĩ về lâu đài, một cách tự nhiên người phương Tây sẽ nghĩ về những tòa lâu đài của chính họ ở những nơi như Anh và Pháp. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là quốc gia của những thợ xây lâu đài. Trong thời kì phong kiến, những lâu đài đồ sộ có thể được thấy ở hầu như tất cả các quận.

Những lâu đài cổ

Do các trận đánh bom trong Chiến tranh thế giới thứ II, do các cuộc hỏa hoạn, hay do các sắc lệnh phá hủy các tòa lầu đài, v…v.., hiện nay chỉ còn 12 lâu đài của Nhật Bản dược coi là vẫn còn kết cấu nguyên bản và có những tòa tháp chính (donjon) được xây dựng từ thời chúng vẫn còn được sử dụng. Bốn trong số này nằm trên đảo Shikoku, hai ở phía Bắc vùng Chugoku , hai ở Kansai, ba ở vùng Chubu và một ở vùng Bắc Tohoku. Không có lâu đài cổ nào ở Kyushu, Kanto, Hokkaido hay Okinawa.

Các lâu đài cổ là:
• Lâu đài Uwajima
• Lâu đài Matsuyama
• Lâu đài Kochi
• Lâu đài Marugame
• Lâu đài Matsue
• Lâu đài Bitchu Matsuyama
• Lâu đài Himeji
• Lâu đài Hikone
• Lâu đài Inuyama
• Lâu đài Maruoka
• Lâu đài Matsumoto
• Lâu đài Hirosaki

Lâu đài Nijo là lâu đài cổ, tuy nhiên, nó thực chất là nơi ở hoàng gia hơn là một lâu đài, vì thế nó không thuộc trong danh sách này.

Trùng tu và phế tích

Nhật Bản có rất nhiều lâu đài được trùng tu lại, rất nhiều trong số đó còn đón nhiều khách du lịch hơn cả những lâu đài cổ. Một lâu đài đã trùng tu lại có nghĩa là tháp chính donjon được xây lại trong thời hiện đại, nhưng rất nhiều lâu đài vẫn có kiến trúc nguyên bản trên nền lâu đài cũ. Ví dụ, ba trong số tòa tháp nhỏ của lâu đài Nogoya đều là nguyên gốc. Những công trình được trùng tu lại vẫn cung cấp cho du khách những cái nhìn về lịch sử và rất nhiều lâu đài, như lâu đài Osaka, còn là bảo tàng trưng bày những tạo tác quan trọng. Lâu đài Kumamoto được coi là một trong số những công trình trùng tu đẹp nhất, bởi vì phần lớn kiến trúc đều được tu sửa chứ không chỉ riêng donjon. Lâu đài duy nhất ở Hokkaido được trùng tu lại là lâu đài Matsumae. Lâu đài Shuri của Okinawa thuộc loại đặc biệt trong số các lâu đài Nhật, bởi vì nó không phải là một lâu đài « kiểu Nhật Bản » mà có nguồn gốc từ vương quốc Ryukyu và được xây dựng theo lối kiến trúc Trung Hoa, kết hợp với một vài yếu tố đặc trưng vùng Okinawa.
Những phế tích lâu đài đặc trưng thường chỉ còn lại tường lâu đài và để lộ ra một số phần của lớp kiến trúc cổ. Mặc dù không có được cấu trúc như của những lâu đài trùng tu, những phế tích lâu đài thường nguyên gốc và chân thực hơn chứ không có những khối kiến trúc bê tông gây cảm giác thương mại và câu khách. Rất nhiều khu phế tích vẫn có giá trị lịch sử to lớn, ví dụ như tòa lâu đài bề thế và ấn tượng Tsuyama được coi là có giá trị nhất cả nước. Ngày nay, tường lâu đài vẫn được bảo tồn nhưng quanh đó lại được trồng hàng ngàn cây hoa anh đào. Điều này khá phổ biến tại nhiều khu phế tích cũng như ở những lâu đài được trùng tu. Lâu đài Takeda cực kì nổi tiếng vì tầm nhìn tuyệt đẹp xung quanh khu phế tích.

Vườn

Nhật Bản nổi tiếng về các khu vườn, được biết đến bởi tính thẩm mĩ độc đáo cả trong những khu vườn phong cảnh hay những khu vườn Zen rải cát và đá. Đất nước này đã lựa chọn ra « Top Three Gardens » chính thức, dựa trên tiêu chí về vẻ đẹp, quy mô, tính nguyên thủy (khu vườn chưa bị thay đổi quá nhiều) và ý nghĩa lịch sử. Ba khu vườn đó là Kairakuen ở Mito, Kenrokuen ở Kanazawa và Korakuen ở Okayama. Nhưng trên thực tế, khu vườn lớn nhất và là nơi yêu thích của rất nhiều khách du lịch lại là Vườn Ritsurin ở Takamatsu.

Có thể tìm thấy những khu vườn rải cát và đá đặc trưng tại các ngôi đền, đặc biệt là đền của Phật giáo thiền tông. Nổi tiếng nhất trong số này là đền Ryoanji ở Kyoto, nhưng những ngôi đền kiểu đó đều có thể được tìm thấy trên khắp đất nước Nhật Bản. Những khu vườn rêu cũng rất được yêu thích ở Nhật Bản và Koke-dera, ngoài ra ở Kyoto có một trong số những khu vườn đẹp nhất cả nước. Để tham quan vườn bạn phải đặt chỗ trước để người ta có thể đảm bảo rằng rêu luôn ở trong tình trạng tươi tốt và không bị giẫm nát.

Các địa điểm tín ngưỡng

Ngoài những địa điểm tham quan yêu thích của bạn thì thật khó để có thể đến Nhật Bản mà không thăm thú qua một vài ngôi đền hay miếu. Đền chùa của Phật hay đạo Shinto là phổ biến nhất, nhưng cũng có một vài địa điểm tín ngưỡng rất đáng xem thuộc các tôn giáo khác.

Đạo Phật

Đạo Phật có ảnh hưởng rất lớn tới Nhật Bản kể từ khi nó được đưa vào vào thế kỉ thứ 6. Cũng như các ngôi miếu, đền chùa có thể được tìm thấy ở tất cả các thành phố và có rất nhiều môn phái cùng tồn tại.

Một vài trong số những đền chùa linh thiêng nhất là quần thể những kiến trúc bề thế nằm trên đỉnh núi, trong đó có Núi Koya (là nơi chôn cất danh giá nhất ở Nhật và là ngôi chùa đứng đầu của Chân Ngôn Tông), Núi Hiei (được xây dựng tại đây khi Kyoto trở thành kinh đô để xóa bỏ đạo Phật ra khỏi chính trị, là trung tâm của phái Thiên Thai Tông) và núi Osore (được coi là « Cánh cửa dẫn đến Địa ngục », chứa đựng rất nhiều lăng mộ dưới lớp đất khô cằn).

Rất nhiều ngôi chùa lớn nằm ở Kyoto, ví dụ như chùa Honganji và Chion-in. Kyoto cũng có năm chùa Zen đứng trong top đầu, gọi là « Five Mountain System » (Tenryuji, Shokokuji, Kenninji, Tofukuji, and Manjuji), cùng với chùa Nanzenji – ngôi chùa cao hơn tất cả các ngôi chùa không nằm trên núi. Các chùa ở Kamakura là Kenchoji, Engakuji, Jufukuji, Jochiji và Jomyoji. Chùa Eiheiji cũng là một ngôi chùa Zen đáng chú ý, nhưng nó không thuộc hệ thống chùa nằm trên núi.

Chùa Todaiji ở Nara và Kotokuin ở Kamakura đều nổi tiếng về những bức tượng Phật khổng lồ. Tượng Phật của chùa Todaiji là lớn nhất cả nước, còn tượng Phật Daibutsu ở Kamakura lớn thứ hai, tọa lạc ngoài trời giữa không gian rộng mở.
Chùa Horyuji ở Horyuki ngay phía Nam Nara là khối kiến trúc bằng gỗ lâu đời nhất của thế giới. Phượng Hoàng Đường tuyệt đẹp ở Uji được hầu hết du khách đến Nhật Bản biết đến, nếu không phải thấy tận mắt bên ngoài thì cũng thấy trên đồng xu mười yên.

Shinto

Đạo Shinto là tôn giáo « bản xứ » của Nhật, vì vậy những ai muốn khám phá những gì « nguyên chất Nhật Bản » sẽ đặc biệt thích thú tìm hiểu về đạo này vì chúng thể hiện thẩm mỹ của người Nhật. Ngôi đền Shinto linh thiêng nhất là Đền Grand Ise, đứng thứ hai là Đền Izumo, là nơi các vị thần tụ họp lại để gặp gỡ hàng năm. Những ngôi đền linh thiêng nổi tiếng khác còn có Đền Itsukushima ở Miyajima, Đền Toshogu ở Nikko, Kumano Sanzan và Dewa Sanzan. Kyoto cũng có nhiều ngôi đền mang tính lịch sử như Đền Shimogamo, Đền Kamigamo và Đền Fushimi Inari.

Thiên Chúa giáo

Thiên Chúa giáo được đưa vào Nhật Bản vào năm 1549 bởi người Bồ Đào Nha và Thánh Francis Xavier. Ông đã dựng nên nhà thờ Thiên chúa giáo đầu tiên ở Yamaguchi gần ngôi chùa Daidoji. Phế tích còn lại của ngôi chùa này ngày nay đã trở thành một phần trong Công Viên Tưởng Niệm Memorial và Nhà thờ Xavier Memorial cũng được xây để tưởng nhớ ông.

Khi Toyotomi Hideyoshi lên nắm vương quyền, Thiên Chúa giáo bị cấm và những người theo Thiên Chúa giáo bị tra tấn. Nagasaki là địa điểm tra tấn nổi tiếng nhất nơi 26 người Thiên Chúa giáo Nhật bị đóng đinh hành xác. Ngày nay họ đã được phong thánh và bạn có thể thăm khu tưởng niệm của họ trong thành phố. Cuộc nổi loạn Shimabara là cuộc nổi dậy nổi tiếng của dân Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản, và chính cuộc nổi loạn này đã dẫn đến việc trục xuất người Bồ Đào Nha và loại bỏ những nghi lễ Thiên Chúa giáo ra khỏi nước Nhật (mặc dù vào thời gian này Thiên Chúa giáo đã cũng đã bị cấm rồi), cùng với việc chém đầu 37.000 nông dân và tín đồ Thiên Chúa giáo. Ở Shimabara bạn có thể đến thăm phế tích còn lại của lâu đài Hara, nơi các tín đồ Thiên Chúa tập hợp lại và bị tấn công, thăm những ngôi mộ đá cổ của người Bồ Đào Nha và các ngôi nhà samurai nơi các samurai theo đạo Thiên Chúa từng ở. Nhà Tưởng niệm Amakusa Shiro ở Oyano có những thước phim về Cuộc nổi loạn Shimabara và những vật trưng bày rất hay liên quan đến cuộc hành xử người Thiên Chúa giáo. Nhưng nơi ít được biết đến hơn có thể ở khá sâu, ví dụ như Công Viên Tưởng niệm và Bảo Tàng những người tử vì đạo ở Fujisawa. Khi đất nước mở cửa trở lại, một số tín đồ Thiên Chúa giáo cho rằng họ có thể thực hiện các nghi lễ Thiên Chúa tự do và thoải mái, vì vậy họ bắt đầu xuất hiện sau 200 năm phải hành đạo một cách bí mật. Nhưng thật không may, việc này lúc đó vẫn là bất hợp pháp và những tín đồ Thiên Chúa này bị bắt lại từ khắp các nơi trên cả nước và bị tra tấn. Bạn có thể thăm một trong những nơi này tại Nhà thờ Maria Cathedral ở Tsuwano, được xây dựng ở Otome Pass tại nơi những tín đồ Thiên Chúa bị bắt vào những lồng chật hẹp và tra tấn.

Cùng với những địa điểm tham quan tưởng nhớ những người tử vì đạo, Nagasaki còn có Nhà thờ Oura, nhà thờ cổ nhất còn sót lại trên cả nước, được xây dựng vào năm 1864. Vì trong nhiều năm, Nagasaki là một trong những nơi duy nhất trên cả nước người nước ngoài có thể đến nên thành phố này chứa đựng đầy chứng tích lịch sử về những tín đồ Thiên Chúa giáo Nhật Bản, vì vậy ngay cả những bảo tàng ở đây cũng có những hiện vật và thông tin về cộng đồng Thiên Chúa giáo.
Rất lạ là bạn có thể thường xuyên bắt gặp những đồ vật thuộc về Thiên Chúa giáo ở những khu đền chùa trên khắp cả nước. Nguyên nhân là do rất nhiều trong số những đồ vật này đã được giấu trong các đền chùa khi Thiên Chúa giáo bị cấm đoán.

Khác

Nhật Bản có rất nhiều miếu thờ Khổng Tử nổi tiếng. Là cửa ngõ của Nhật Bản ra ngoài thế giới trong nhiều thế kỉ, ngôi miếu thờ Khổng Tử ở Nagasaki là ngôi miếu Khổng Tử duy nhất trên thế giới được người Trung Quốc xây dựng bên ngoài Trung Quốc. Yushima Seido ở Tokyo là một ngôi trường đạo Khổng và là một trong những tổ chức giáo dục đại học đầu tiên ở Nhật. Trường bán công đầu tiên trong nước Shizutani ở Bizen cũng dạy học dựa trên nguyên tắc và phương pháp của đạo Khổng. Ngay cả ngôi trường cũng được xây dựng dựa trên phong cách kiến trúc Trung Hoa. Trường công đàu tiên ở Okinawa là một trường theo đạo Khổng được tặng cho Vương quốc Ryukyu cùng với Miếu thờ Khổng Tử Shiseibyo.

Tôn giáo vùng Okinawa cũng có những địa điểm tín ngưỡng riêng. Seta Utaki, một di sản thế giới, là một trong số những nơi nổi tiếng nhất. Rất nhiều nghi lễ tôn giáo được tổ chức ở đây. Asumui ở công viên Kongo Sekirinzan là một khối đá lớn được cho là phần đất cổ nhất ở khu vực này. Đây là một địa điểm tôn giáo nơi các thầy cúng từng đến để nói chuyện với các vị thần.

Các điểm tham quan về Thế Chiến Thứ 2

Ba nơi phải đến là Hiroshima, Nagasaki và Naha, thủ phủ của Okinawa. Okinâ là nơi một số trận chiến đẫm máu đã diễn ra giữa Nhật và Hoa Kỳ, và nơi này vẫn đang lê bước với những tàn dư từ quá khứ đen tối. Công viên Hòa Bình, Bảo tàng Hòa Bình quận, Bảo tàng Hòa Bình Himeyuri và Nhà tưởng niệm Hòa Bình là một trong những nơi hay ho nhất có thể đến để tìm hiểu, xem các hiện vật và nghe những bài thống kế về những cuộc chiến đã diễn ra ở đây.

Hiroshima và Nagasaki là hai điểm tham quan quan trọng về Thế Chiến thứ 2, bởi những đợt ném bom nguyên tử lên hai thành phố này đã dẫn đến sự kết thúc của Chiến tranh Thái Bình Dương. Những điểm tham quan và bảo tàng ở hai thành phố này còn nói với mọi người về viễn cảnh tương lai đen tối nếu như các nước tiếp tục theo đuổi các chương trình vũ khí hạt nhân và làm giàu hạt nhân. Hai thành phố này là hai thành phố duy nhất trên thế giới từng bị thả bom hạt nhân, và ở mỗi thành phố đều có Bảo Tàng Tưởng Niệm và Công Viên Hòa Bình, nơi du khách có thể cảm nhận được sức mạnh hủy diệt và khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân thật sự là như thế nào. Đối với nhiều du khách ở Nhật, đến thăm ít nhất một trong hai thành phố này là điều bắt buộc phải thực hiện.

Nhiều người rất muốn biết về cơ hội đến thăm đảo Iwo Jima. Hiện nay Military Historic Tours Company là công ty duy nhất có quyền dẫn tour đến đảo này.

Hành trình hành hương

88 Temple Pilgrimage – một chặng đường dài 1.647km đầy gian khổ quanh đảo Shikoku

Chugoku 33 Kannon Temple Pilgrimage

Narrow Road to the Deep North – một hành trình ở phía Bắc Nhật Bản, trở nên bất hủ qua bài thơ haiku nổi tiếng của Nhật.

Vui chơi

• Top 100 địa điểm ngắm hoa anh đào nở ở Nhật
• Leo ngọn núi Fuji cao 3776m, biểu tượng của Nhật Bản
• Đi bộ giữa hàng ngàn bông hoa anh đào ở Yoshino
• Leo núi Aso để xem một trong những miệng núi lửa lớn nhất thế giới
• Thăm những đỉnh núi tuyết ở công viên quốc gia lớn nhất cả nước Daisetsuzan.
• Trèo lên 2446 bậc đá của đỉnh núi linh thiêng Haguro qua khu rừng nguyên sinh đáng kinh ngạc.
• Ngâm mình trong suối nước nóng ở Onsen Capital, Beppu.
• Đi bè trên một số dòng sông lớn và hoang dại ở Nhật Bản tại Thung lũng Iya.
• Trượt tuyết trên lớp tuyết nổi tiếng của Hokkaido hay trên núi Alps Nhật.
• Qua đêm trong một trong những ngôi chùa linh thiêng ở núi Koya.

Mua

Tiền tệ

Đơn vị tiền tệ Nhật Bản là đồng yên Nhật, viết tắt là ¥ (hay JPY trong trao đổi ngoại hối). Tháng Mười hai năm 2011, đồng yên dao động quanh mức 77 so với đồng đô la Mỹ và bằng xấp xỉ 263VNĐ. Kí hiệu 円 (đọc là en) được dùng trong tiếng Nhật.
• Tiền xu: 1 (đồng bạc), 5 (đồng vàng có lỗ ở giữa), 10 (bằng đồng), 50 (đồng bạc có lỗ ở giữa), 100 (đồng bạc), và đồng 500 yên. Có hai loại đồng ¥500 được phân biệt qua màu sắc. (Các đồng mới làm bằng vàng, các đồng cũ làm bằng bạc).
• Tiền giấy: 1.000 (màu xanh da trời), 2.000 (xanh lá cây), 5.000 (màu tím), và 10.000 yên (màu nâu), tờ ¥2,000 khá là hiếm. Thiết kế mới cho tất cả các tờ giấy bạc trừ tờ ¥2,000 được đưa vào Tháng Mười một năm 2004, vì thế hiện nay có hai phiên bản đang được lưu hành. Hầu hết người bán hàng sẽ không từ chối nhận tờ ¥10,000 ngay cả khi giá trị mua hàng nhỏ.

Nhật Bản về cơ bản vẫn là xã hội dùng tiền mặt. Mặc dù phần lớn cửa hàng và khách sạn phục vụ khách nước ngoài chấp nhận thẻ tín dụng, nhiều địa điểm kinh doanh khác như quán cà phê, bar, cửa hàng tạp phẩm và ngay cả những khách sạn và nhà nghỉ nhỏ lại không chấp nhận. Ngay cả những điểm kinh doanh chấp nhận thẻ cũng thường có mức phí tối thiểu và phụ phí trả thêm, mặc dù hình thức này đang dần biến mất. Loại thẻ tín dụng phổ biến nhất Nhật Bản là JCB, và do liên kết giữa Discover và JCB, các thẻ Discover cũng có thể được sử dụng ở bất cứ đâu chấp nhận thẻ JCB. Điều này có nghĩa là thẻ Discover được chấp nhận rộng rãi hơn thẻ Visa/ Mastercard/ American Express. Hầu hết người bán hàng không quen dùng thẻ, nhưng có thể được nếu bạn thuyết phục được họ.

Người Nhật thường mang theo khá nhiều tiền mặt – việc này khá là an toàn và là điều cần thiết, đặc biệt ở những thị trấn nhỏ và những khu vực biệt lập. Ở nhiều thành phố, người Nhật còn dùng điện thoại để trả tiền mua hàng tại những nơi điện thoại di động có chức năng giống nhau thẻ tín dụng và hóa đơn sẽ được gửi cho họ cùng với hóa đơn điện thoại. Tuy nhiên, để tận dụng được dịch vụ này thì cần phải có điện thoại và SIM của Nhật, vì thế nó không áp dụng được đối với người nước ngoài chỉ thăm thú trong khoảng thời gian ngắn. Nếu bạn đã có điện thoại Nhật thì cần biết rằng việc kích hoạt thẻ trả trước trên một SIM đi thuê sẽ mất phí dung lượng, mặc dù như thế vẫn rẻ hơn là dùng thẻ thông thường. Có thể tránh được việc này bằng cách sử dụng WiFi.

Hầu hết các ngân hàng lớn ở Nhật Bản sẽ cho đổi tiền từ đồng đô la Mỹ (cả tiền mặc hay sec du lịch). Về cơ bản thì tỉ giá là bằng nhau giữa các ngân hàng. Tùy thuộc vào mức độ bận rộn của chi nhánh, việc chờ đợi 15-30 phút không phải là hiếm. Các loại tiền khác được chấp nhận là đồng euro; đồng franc Thụy Sĩ; đô la New Zealand, Australia và Canada; và đồng bảng Anh. Trong số các loại tiền tệ châu Á, đồng đô la Singapore có vẻ được chấp nhận rộng rãi nhất, theo sau là đồng won của Hàn và đồng Nhân dân tệ Trung Quốc.

Tỉ giá hối đoái đối với đồng đô la Mỹ và euro thường rất có lợi (thấp hơn tỉ giá chính thức khoảng 2% ). Tỉ giá đối với các tiền tệ khác thì kém hơn (thấp hơn tỉ giá chính thức đến 15%). Các loại tiền tệ châu Á khác thường không được chấp nhận (tiền tệ của các nước bên cạnh như won, nhân dân tệ hay đô la Hồng Kong là ngoại lệ). Các bưu điện Nhật cũng có thể trả tiền mặt cho sec du lịch hoặc đổi tiền mặt lấy đồng yên với tỉ giá tốt hơn các ngân hàng một chút. Séc du lịch cũng có tỉ giá hối đoái tốt hơn là tiền mặt. Nếu bạn đổi một lượng tiền lớn hơn 1.000 đô la Mỹ (bằng tiền mặt hay séc du lịch), bạn cần cung cấp thông tin nhận dạng bao gồm tên, địa chỉ và ngày sinh (để tránh việc rửa tiền và bơm tiền vào các tổ chức khủng bố). Vì hộ chiếu thường không có địa chỉ của bạn nên hãy mang theo các loại thẻ căn cước khác có đề địa chỉ của bạn, ví dụ như bằng lái xe.

Máy ATM

Máy ATM của Nhật, được người Nhật gọi là góc đựng tiền – cash corner (キャッシュコーナー kyasshu kōnā), thường không chấp nhận thẻ nước ngoài và khả năng cho phép rút tiền từ thẻ tín dụng là rất ít. Có một số ngoại lệ như:

• Hơn 12.000 cửa hàng 7-Eleven Nhật có máy ATM chấp nhận thẻ nước ngoài khi rút tiền. Những thẻ được chấp nhận là Mastercard, Maestro, Visa, American Express, JCB và UnionPay và các thẻ ATM có logo Cirrus và Plus. Những thẻ này là hữu dụng nhất vì chúng có ở khắp mọi nơi và dùng được 24/7.
• Ngân hàng Nhật JP Bank (ゆうちょ Yū-cho), trước kia là Ngân hàng Tiết kiệm Bưu điện và vì vậy có thể tìm thấy ở hầu hết các Bưu điện và các bưu điện này có chi nhánh ở hầu hết mọi làng quê. Máy ATM bưu điện có hướng dẫn bằng Tiếng Anh cũng như Tiếng Nhật. Thẻ Plus, Cirrus, Visa Electron, Maestro và UnionPay được chấp nhận, và bạn có thể rút tiền trước bằng thẻ Visa, Mastercard, Amex và Diners Club. Số PIN của bạn phải từ 6 chữ số trở xuống.
• Citibank có mạng lưới khá khiêm tốn nhưng có máy ATM ở các sân bay lớn.
• HSBC (香港上海銀行) có rất ít máy ATM và các máy này cách xa nhau, nhưng chấp nhận thẻ Visa và MasterCard.
• Shinsei Bank (香港上海銀行): máy ATM chấp nhận Plus và Cirrus, nằm các ga lớn Tokyo Metro và Keikyu cũng như các khu vực buôn bán ở các thành phố lớn.
• SMBC (三井住友銀行), máy ATM chấp nhận thẻ UnionPay với phí 75 yên. Bạn phải đổi sang ngôn ngữ Tiếng Anh hoặc Tiếng Trung Quốc trước khi đút thẻ vào, nếu không máy sẽ không nhận dạng được thẻ.
• Mitsubishi UFJ (三井住友銀行) máy ATM chấp nhận thẻ UnionPay, thẻ JCB được cấp ở nước ngoài và thẻ Discover mà không thu thêm phí. Lưu ý là đầu tiên bạn phải bấm nút “English” trước vì máy ATM của họ sẽ không nhận dạng những thẻ không phải của Nhật khi đang ở chế độ Tiếng Nhật.
• AEON (イオン銀行): máy ATM chấp nhận thẻ UnionPay không thu thêm phí. Ở đây bạn bấm nút “International Cards”.

Lưu ý là các ngân hàng Nhật đang có xu hướng dùng UnionPay (và cả MUFG chấp nhận Discover). Mặc dù 7-Elevens có mặt ở khắp nơi, có nhiều lựa chọn vẫn tốt hơn, vì thế hãy cố gắng làm một chiếc thẻ ghi nợ UnionPay hoặc Discover trước khi đến cho tiện (Ví dụ, ở sân bay Narita thường có máy ATM chấp nhận thẻ nước ngoài ở tầng một Terminal 2, những máy này sẽ rất đông mỗi khi có một chuyến bay quốc tế hạ cánh, trong khi đó máy ATM Mitsubishi-UFJ ở tầng 2 thì hầu như lúc nào cũng trống).

Một điều cần lưu ý nữa là nhiều máy ATM của Nhật ngừng hoạt động vào buổi tối và cuối tuần, vì thế nên giao dịch ngân hàng vào giờ hành chính. 7-Eleven là một ngoại lệ và nó luôn luôn hoạt động 24 giờ.

Ngoài ra có ba điều chú ý nữa đối với thẻ UnionPay:
1. Cả 7-Bank và Yucho đều thu thêm phí ATM 110 yên bên cạnh phí trả cho ngân hàng phát hành. SMBC chỉ thu 75 yên. Aeon và MUFG không thu thêm phí, vì thế tốt nhất là rút tiền khi máy ATM của họ đang hoạt động.
2. Số thẻ UnionPay của bạn phải bắt đầu bằng số 6. Nếu chữ số đầu là số khác và thẻ không có logo của một hệ thống nào khác thì nó sẽ không hoạt động được ở Nhật. Hãy đổi một thẻ khác. Nếu chữ số đầu là 3/4/5 và nó có logo của hệ thống khác (Visa/MasterCard/AmEx), nó sẽ không hoạt động được ở các máy ATM của SMBC/MUFG/Aeon và chỉ hoạt động ở máy ATM của các mạng lưới khác (Yucho/7-Bank/HSBC/Citi/Shinsei).
3. Hình minh họa trên thẻ ATM của SMBC/MUFG/Aeon cho thấy thẻ được đút vào sao cho vạch từ thẳng đứng. Điều này chỉ đúng với thẻ của Nhật (và thẻ Discover của MUFG), còn các thẻ UnionPay vẫn đút vào bình thường.
Ngoài ra còn có những máy phát tiền (cash dispenser - viết tắt là CD ở Nhật), được dùng để rút tiền trước từ thẻ tín dụng. Một số máy sẽ chấp nhận các thẻ ATM/debit/credit card được phát hành ở nước ngoài.
• Các máy SMBC, UC Card và Mitsubishi UFJ Card sẽ nhận thẻ Visa và MasterCard.
• Các máy Orico sẽ chỉ nhận thẻ MasterCard.
• Các máy JCB sẽ nhận thẻ Visa, MasterCard, American Express, JCB và Union Pay.

Chú ý sự khác nhau giữa máy CD và ATM, ngay cả khi cùng một tổ chức tài chính. Ví dụ, đối với những thẻ được phát hành ở nước ngoài, máy ATM của ngân hàng SMBC và MUFG sẽ chấp nhận thẻ UnionPay (MUFG nhận cả thẻ Discover), trong khi đó máy phát tiền của SMBC và Mitsubishi UF J chỉ chấp nhận thẻ Visa/Mastercard.
Máy bán hàng ở Nhật được biết đến với sự phủ sóng rộng khắp và độ phong phú về sản phẩm được bán. Hầu hết các máy chấp nhận tờ ¥1.000, và một số loại như máy bán vé tàu sẽ chấp nhận cả ¥10.000; không có máy nào chấp nhận đồng xu ¥1 hay ¥5 và tờ ¥2,000. Và ngay cả những máy bán hàng hiện đại nhất cũng không chấp nhận thẻ tín dụng, ngoại trừ một số máy ở các ga tàu (nhưng sẽ có một số hạn chế – ví dụ, máy bán vé tàu JR East yêu cầu số PIN phải từ 4 chữ số trở xuống; hầu hết chủ thẻ tín dụng sẽ có lợi hơn nếu mua vé từ phòng vé). Chú ý là máy bán thuốc lá yêu cầu phải có thẻ Taspo (để xác nhận độ tuổi) và không may là lại không bán cho người nước ngoài, nhưng những người dân địa phương sẽ rất vui lòng cho bạn mượn thẻ của họ.

Thẻ điện tử trả trước khá phổ biến ở Nhật khi mua hàng số lượng nhỏ. Có cả thẻ dành cho mua vé tàu, thẻ mua ở các cửa hàng tiện ích và thẻ điện thoại công cộng, và chúng không dùng thay thế cho nhau được.

Mức thuế tiêu thụ 5% được áp dụng khi mua hàng ở Nhật. Từ tháng Tư năm 2004, thuế này phải được tính luôn vào giá tiền ghi trên hàng hóa (vì thế có rất nhiều giá tiền kì cục như là ¥105 hay ¥525), nhưng một số cửa hàng vẫn ghi giá chưa tính thuế, vì thế hãy chú ý kĩ. Từ zeinuki (税抜) có nghĩa là chưa tính thuế, zeikomi (税込) có nghĩa là đã bao gồm cả thuế. Nếu bạn không thấy hai từ này trên giá bán, thì hầu hết sẽ là giá đã bao gồm cả thuế.

Luôn luôn để dành một số tiền dự phòng đáng kể ở Nhật, vì nếu do bất cứ lý do gì bạn bị hết tiền (bị trộm ví, thẻ tín dụng bị khóa, v..v..) thì sẽ rất khó để chuyển tiền cho bạn. Westen Union không phổ biến ngay cả ở những khu trung tâm lớn (Thỏa thuận của họ với Ngân hàng Suruga đã kết thúc từ năm 2009 và họ mới chỉ bắt đầu một thỏa thuận mới với Daikokuya vào tháng Tư năm 2011), các ngân hàng sẽ không cho bạn mở tài khoản mà không có thẻ căn cước trong nước, và ngay cả lệnh chuyển tiền qua bưu điện quốc tế cũng yêu cầu phải có chứng minh địa chỉ cư trú ở Nhật Bản.

Tiền tip

Việc cho tiền tip không tồn tại ở Nhật, và nếu cứ cố cho tiền tip thì sẽ có thể bị coi là xúc phạm. Dịch vụ của Nhật thật sự rất tuyệt vời, và bạn không cần phải hối lộ nhân viên phục vụ để họ phục vụ tốt hơn – nếu bạn để lại tiền típ trong nhà hàng, nhân viên sẽ có thể chạy theo để trả lại tiền bạn đã “bỏ quên”. Ngay cả nhân viên xách hành lý ở các khách sạn lớn cũng không nhận tiền tip. Ngoại lệ duy nhất là đối với ryokan cao cấp và với những hướng dẫn viên nói Tiếng Anh.

Tuy nhiên, một số nhà hàng sẽ thêm 10% phí dịch vụ và các cửa hàng gia đình sẽ thêm 10% phí phục vụ muộn sau nửa đêm.

Chi phí

Nhật Bản nổi tiếng vì cực kì đắt đỏ - và nó đúng là như thế. Tuy nhiên, có nhiều thứ đã rẻ hơn rất nhiều trong thập kỉ vừa qua. Nhật Bản sẽ không trở nên quá đắt nếu bạn lên kế hoạch cẩn thận và thực ra có khi còn rẻ hơn cả Australia và hầu hết các nước trong liên minh châu Âu nếu xét về chi phí cơ bản. Đặc biết đối với những chuyến đi đường dài, Japan Rail Pass, Japn Bus Pass và những chuyến bay Visit Japan có thể giúp bạn tiết kiệm được cả đống tiền.

Thật tiếc khi phải nói điều này nhưng bạn sẽ thấy rất khó khăn để có thể du lịch nếu chỉ có dưới ¥5.000 mỗi ngày (nhưng nếu bạn lên kế hoạch cẩn thận thì chắc chắn là được) và bạn sẽ chỉ cảm thấy thoải mái nếu bạn chi 10.000. Ở khách sạn sang trọng, ăn những bữa ăn ngon miệng hay chỉ cần đi những chuyến đường dài thôi cũng sẽ nhân đôi số tiền này lên. Mức giá thường thấy cho một chuyến đi có hầu bao trung bình là ¥5.000 tiền khách sạn, ¥2.000 ăn uống và ¥2.000 nữa cho các loại phí vào cửa và giao thông công cộng.

Tuy nhiên, nếu bạn không có nhiều tiền, bạn có thể mua các đồ dùng cần thiết ở một trong số rất nhiều cửa hàng ¥100 (百円ショップ hyaku-en shoppu) có ở hầu hết các thành phố. Daiso là chuỗi cửa hàng ¥100 lớn nhất ở Nhật với 2.500 cửa hàng trên cả nước. Các chuỗi cửa hàng lớn khác là Can Do (キャンドゥ), Seria (セリア) và Silk (シルク). Có cả những cửa hàng ¥100 giống cửa hàng tiện ích như SHOP99 và Lawson Store 100, ở đây, bên cạnh các sản phẩm giá ¥100 , bạn có thể mua bánh kẹp, đồ uống và rau củ.

Mẹo mua sắm tiết kiệm

Như đã lưu ý ở trên, Nhật Bản có thể sẽ rất đắt đỏ. Bạn có thể cảm thấy mọi sản phẩm hay bữa ăn ở Nhật đều có bảng giá cao ngất. Lý do chính là vì bạn đã mua sắm những sản phẩm cao cấp ở khu phố trung tâm hay những khu phố ẩm thực. Nếu bạn muốn mua những sản phẩm ở mức giá vừa phải, hãy cân nhắc cẩn thận xem bạn đang thực sự tìm kiếm những sản phẩm cao cấp hay chỉ muốn những hàng hóa và thực phẩm hàng ngày. Nếu là sản phẩm cao cấp thì bạn nên vào những cửa hàng bách hóa, cửa hàng thời trang và nhà hàng cao cấp ở các khu đô thị, trong những khu mua sắm phổ biến như Isetan ở Shinjuku và Matsuya ở Ginza; còn đối với những sản phẩm thông dụng hàng ngày thì nên hướng sự chú ý vào những trung tâm mua sắm ở ngoại ô hay siêu thị như Aeon hay Ito-Yokado.

Mua sắm

Mức thuế 5% được áp dụng sẽ không được hoàn trả đối với những mặt hàng tiêu dùng ngay như thức ăn hay đồ uống. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng khác như quần áo và đồ điện tử, nếu bạn không phải dân bản địa thì thuế sẽ được hoàn trả khi hóa đơn mua hàng có giá trị trước thuế từ ¥10.000 trở lên khi bạn rời khỏi Nhật.

Ở nhiều cửa hàng bách hóa như Isetan, Seibu và Matsuzakaya, bạn sẽ phải trả toàn bộ chi phí ở quầy thu ngân và đi đến quầy hoàn trả thuế (税金還付 zeikin kanpu or 税金戻し zeikin modoshi) , thường nằm ở một trong những tầng cao hơn, trình hóa đơn và hộ chiếu cho nhân viên để nhận lại tiền bồi hoàn. Ở một số cửa hàng ghi là “miễn thuế” (免税 menzei), bạn chỉ cần trình hộ chiếu cho thu ngân khi thanh toán và tiền thuế sẽ được trừ luôn tại chỗ.

Khi mua hàng miễn thuế hay hàng được hoàn thuế, nhân viên quầy sẽ ghim một mảnh giấy vào hộ chiếu của bạn và bạn nên giữ cho đến khi rời Nhật Bản. Khi bạn rời Nhật Bản, mảnh giấy này sau đó sẽ được giao lại cho nhân viên hải quan ngay trước khi bạn nhập cảnh và có thể kiểm tra lại để chắc chắn là bạn mang theo đồ vật đó ra khỏi Nhật.

Mặc dù người ta nói rằng những thành phố ở Nhật không bao giờ ngủ, thời gian các cửa hàng mở cửa lại ít một cách đáng ngạc nhiên. Giờ mở cửa của hầu hết các cửa hàng thường là 10h sáng đến 8h tối, nhưng hầu hết các cửa hàng đều mở cả vào cuối tuần và các ngày nghỉ lễ trừ Năm Mới, và đóng cửa một ngày một tuần. Các nhà hàng thì thường mở rất muộn vào ban đêm, tuy nhiên hút thuốc thường được phép sau 8h tối nên những ai không chịu được khói thuốc nên ăn trước giờ đó.

Tuy vậy, lúc nào bạn cũng có thể tìm thấy thứ gì đó bạn cần mua vào mọi thời điểm trong ngày. Nhật Bản đang dần phát triển những cửa hàng tiện ích 24/7 (コンビニ konbini) như 7-Eleven, Family Mart, Lawson, Circle K và Sunkus. Những cửa hàng này bán nhiều loại sản phẩm hơn các cửa hàng tiện ích ở Mỹ hay châu Âu, đôi khi có cả máy ATM và được mở cửa tất cả các ngày trong tuần! Nhiều cửa hàng tiện ích còn cung cấp các dịch vụ như fax, vận chuyển hành lý takkyubin, một số dịch vụ bưu điện, dịch vụ thanh toán hóa đơn (bao gồm thẻ nạp tiền điện thoại quốc tế như Brastel) và bán lẻ trực tuyến (như Amazon.jp) và bán vé cho các sự kiện, hòa nhạc và xem phim.

Tất nhiên, những nơi liên quan đến đời sống về đêm như quán karaoke hay bar sẽ mở cửa xuyên đêm: ngay cả ở những thị trấn nhỏ cũng có thể dễ dàng tìm được một quán rượu izakaya mở cửa đến tận 5h sáng. Các quán Pachinko bị buộc phải đóng cửa lúc 11h tối.

Anime và manga

Đối với nhiều người phương Tây, anime (hoạt hình) và manga (truyện tranh) là những biểu tượng phổ biến nhất của nước Nhật hiện đại. Rất nhiều khách du lịch đến Nhật để tìm mua những đồ vật liên quan đến các anime và manga yêu thích của họ. Những đồ này thường được phát hành thành các phiên bản khác nhau ở Nhật và ở phương Tây, trong đó phiên bản phương Tây sẽ cắt bớt những nội dung bị cấm trong phiên bản Nhật. Phần lớn người hâm mộ anime sẽ cố tìm những đĩa DVD anime nói tiếng Nhật, nhưng có một số bất tiện như những ấn phẩm trong nước thường sẽ không có phụ đề (ngoại trừ những ấn phẩm của Studio Ghibli có phụ đề Tiếng Anh), và Nhật Bản nằm trong vùng DVD Region 2 và sử dụng dạng video NTSC, vì thế nếu bạn sống ngoài Region 2 và/hoặc dùng PAL hay SECAM, có thể bạn sẽ không xem được DVD. Bạn có thể giải quyết vấn đề này với những thiết bị đặc biệt và sẽ khá đắt tiền như ti vi multi-system hoặc máy DVD all-region. Hay phổ biến hơn, với một chiếc máy tính cài đặt phần mềm mở khóa khu vực (VLC Media Player) những ai am hiểu về công nghệ có thể xem được những DVD đó. Bạn có thể ngạc nhiên với mức giá ở đây: đĩa DVD mới thường có giá hơn ¥3.000 và mỗi đĩa DVD thường chỉ có 2 tập mà thôi.

Các ấn phẩm Blu-Ray thường đắt hơn đĩa DVD (giá thấp nhất là ¥4.000). Tuy nhiên cần chú ý là những vùng xem được Blu-Ray đỡ bị hạn chế hơn DVD. Nhật Bản chung mã (Region A) với Bắc và Nam Mỹ, Hàn Quốc, Đông Nam Á, Đài Loan, Ma cao và Hồng Kông (nhưng không có Trung Quốc đại lục). Một số đĩa cũng được phát hành mà không có mã khu vực, và có thể xem được với bất cứ máy nào tương thích NTSC.

Video và PC game

Trò chơi điện tử là một ngành công nghiệp lớn ở Nhật, nhưng mã khu vực NTSC-J của Nhật lại không tương thích với console các nước ở châu Âu, Bắc Mỹ, Australia và Trung Quốc đại lục, vì thế bạn cần mua console Nhật để chơi những trò chơi này. Ở Triều Tiên, Đài Loan và Hồng Kông, Ma cao hay Đông Nam Á, những trò chơi này vẫn chơi tốt trên console của bạn. Tất nhiên, ngôn ngữ vẫn là bằng Tiếng Nhật. (Trừ khi trò chơi có chế độ tùy chọn ngôn ngữ).

Sau đây là danh sách các console hiện đại và tính tương thích của chúng:
• Sony PlayStation 3 – Có nhiều game không hề có mã vùng bảo vệ (mặc dù một số game ghi trên hộp là có mã vùng nhưng 99,99% những game này vẫn chơi tốt trên PS3) ; tuy có thể có bất tiện về ngôn ngữ, nhưng ngày nay nhiều trò chơi có chế độ đa ngôn ngữ và có thể chọn ngôn ngữ từ console của bạn.
• Sony PSP – không giới hạn khu vực
• Nintendo Wii – bị khóa ; ngay cả hệ thống Wii Nhật Bản và Hàn Quốc cũng không chơi được và không tương thích.
• Nintendo DS – không giới hạn khu vực
• Nintendo Dsi-bị khóa đối với game Dsi và nội dung tải Dsi ; không giới hạn khu vực đối với các game DS
• Nintendo 3DS – bị khóa
• Microsoft Xbox 360 – case-by-case basis

Mặt khác, các game chơi trên PC thường hoạt động bình thường, miễn là bạn hiểu được tiếng Nhật để cài và chơi chúng. Những thể loại chỉ có ở Nhật bao gồm visual novel (ビジュアルノベル), là một dạng game tương tác với nét vẻ kiểu anime, hơi giống với dating sims và một nhánh của nó là erotic game (エロゲー eroge), một dạng game đúng như tên gọi của nó.

Nói chung nơi tốt nhất để mua trò chơi điện tử là Akihabara ở Tokyo và khu Den Denn ở Osaka (còn nếu chỉ cần mua đơn giản thôi thì bạn có thể mua trò chơi điện tử ở hầu như mọi nơi trên đất Nhật).

Đồ điện tử và máy ảnh

Những đồ điện tử nhỏ chạy pin và những máy ảnh được sản xuất để bán ở Nhật có thể dùng tốt ở bất cứ đâu trên thế giới, mặc dù bạn sẽ phải vật lộn với quyển hướng dẫn bằng Tiếng Nhật. (Một số cửa hàng lớn có thể cho bạn quyển hướng dẫn Tiếng Anh (英語の説明書 eigo no setsumeisho) nếu được yêu cầu). Sẽ không có chênh lệch lớn về giá cả giữa các cửa hàng nhưng về phạm vi lựa chọn thì khác xa nhau. Tuy nhiên, nếu bạn định mua đồ điện tử để mang về nhà thì tốt nhất là nên mua ở những cửa hàng chuyên bán đồ cấu hình “nước ngoài”, rất nhiều trong số này có thể tìm thấy ở Akihabara ở Tokyo. Ví dụ như bạn có thể mua đầu DVD PAL/NTSC không giới hạn khu vực. Cũng cần phải nhớ rằng lưới điện AC của Nhật hoạt động ở 100 vôn, vì thế dùng những đồ điện tử của Nhật bên ngoài nước Nhật mà không có bộ biến áp có thể sẽ gây nguy hiểm. Ngay cả mạng lưới điện 110V chuẩn của Mỹ cũng quá tải đối với một số thiết bị.

Giá cả thấp nhất và mua sắm đơn giản nhất là ở những cửa hàng giảm giá lớn như Bic Camera, Yodobashi Camera, Sofmap và Yamada Denki. Họ thường có nhân viên nói tiếng Anh trực và chấp nhận thẻ tín dụng nước ngoài. Đối với những sản phẩm thông dụng, giá cả nói chung là giống nhau, vì thế không cần phải mất thời gian so sánh giá. Có thể mặc cả ở các cửa hàng nhỏ, và ngay cả các chuỗi cửa hàng lớn cũng sẽ điều chỉnh giá so với đối thủ cạnh tranh của họ.

Phần lớn các chuỗi cửa hàng lớn có thẻ tích điểm và sẽ cộng điểm cho bạn để được chiết khấu trong lần mua sau, ngay cả chỉ sau vài phút sau đó. Các lần mua hàng thường sẽ tích được 5% đến 20% giá trị mua hàng, và một điểm tương đương với ¥1. Một số cửa hàng (lớn nhất trong đó là Yodobashi Camera) yêu cầu bạn phải đợi qua đêm mới có thể được cộng điểm. Những thẻ này được đưa ngay lúc mua và không cần phải có địa chỉ nơi ở. Tuy nhiên, một số cửa hàng không cho phép bạn vừa tích điểm vừa nhận lại tiền hoàn thuế trong cùng một lần mua hàng.
Ngoài ra, các cửa hàng lớn thường trừ 2% từ số điểm bạn tích được nếu bạn mua hàng bằng thẻ tín dụng (nếu dùng thẻ tín dụng UnionPay, Bic và Yodobashi sẽ không cho bạn cộng thêm điểm nào, mặc dù bạn sẽ được giảm giá 5% luôn để đền bù). Nếu bạn biết bạn sẽ quay lại mua đồ ở cùng một cửa hàng (với điều kiện bạn sẽ trả tiền tại cùng một tầng với nơi để hàng) thì hãy chọn cách tích điểm, vì đối với hầu hết các mặt hàng bạn có thể tích được ít nhất 10% so với mức hoàn thuế chỉ 5%.

Thời trang

Mặc dù thời trang thời thượng thì ở Pháp hoặc Ý là tuyệt vời nhất, nhưng khi nói về thời trang hàng ngay, Nhật khó có thể bị đánh bại. Đặc biệt, Tokyo và Osaka là tụ điểm của rất nhiều khu mua sắm, và có rất nhiều cửa hiệu thời trang thời thượng nhất, đặc biệt là thời trang dành cho giới trẻ. Một số cái tên như Shibuya ở Tokyo và Shinsaibashi ở Osaka đều nổi tiếng khắp nước Nhật là trung tâm của thời trang giới trẻ. Vấn đề chính là các cửa hàng Nhật chỉ có quần áo dành cho khách hàng có vóc dáng giống người Nhật, và tìm kiếm quần áo cỡ lớn là rất khó.

Nhật Bản cũng nổi tiếng với các sản phẩm làm đẹp như kem và mặt nạ dưỡng mặt, có cả dành cho nam giới. Mặc dù những sản phẩm này có bán ở hầu hết các siêu thị nhưng huyện Ginza ở Tokyo là nơi có cửa hiệu của hầu hết các nhãn hàng cao cấp.

Đóng góp lớn nhất của Nhật Bản đối với đồ trang sức là kĩ thuật cấy ngọc trai, được phát minh bởi Mikimoto Kōkichi vào năm 1893. Hoạt động nuôi trồng ngọc trai chính ngày nay nằm ở thị trấn nhỏ ở Toba gần Ise, nhưng những viên ngọc trai thì được bán rộng khắp, nhưng ở nước ngoài nếu có thì sẽ có chút chênh lệch giá cả. Đối với những ai muốn tận tay sờ vào những sản phẩm thật từ tự nhiên thì có thể đến cửa hàng lớn của Mikimoto ở huyện Ginza, Tokyo.
Tiếp theo tất nhiên sẽ là áo kimono. Trong khi những chiếc áo kimono mới rất đắt thì những chiếc kimono cũ có thể mua được với mức giá thấp hơn nhiều. Có một hướng dẫn mua kimono riêng ở trên Wikitravel cho những ai muốn tự mua cho mình một bộ.

Thuốc lá

Hút thuốc lá vẫn còn phổ biến ở Nhật, đặc biệt là ở nam giới. Mặc dù thuốc lá được bán ở các máy bán hàng tự động đặt rải rác khắp nước Nhật, những khách du lịch tới Nhật muốn mua thuốc lại phải mua ở các cửa hàng tiện ích hoặc các cửa hàng miễn thuế. Do những luật lệ nghiêm khắc đối với ngành thuốc lá Nhật về độ tuổi (độ tuổi hợp pháp là 20), bạn cần phải có thẻ căn cước đặc biệt xác nhận độ tuổi gọi là thẻ TASPO để mua thuốc lá từ các máy bán hàng. Thẻ TASPO chỉ được cấp cho dân bản địa Nhật.

Thuốc lá thường được đựng trong những hộp cứng cỡ lớn 20 điếu, và khá là rẻ, khoảng 300-400 yên. Nhật Bản có rất ít hãng thuốc lá nội địa: Seven Stars và Mild Seven là hai thương hiệu địa phương phổ biến nhất. Các thương hiệu của Mỹ như Marlboro, Camel và Lucky Strike thì cực kì phổ biến mặc dù thuốc lá của các hãng Nhật sản xuất nhẹ hơn của các hãng phương Tây. Ngoài ra còn có những thuốc lá có hương vị lạ, những thuốc lá nhẹ có đầu lọc điều vị, mặc dù chúng có vị rất không tự nhiên và gây ít tác động, hầu hết chúng phổ biến với phụ nữ hơn.

Ăn

Xem đầy đủ thông tin về ăn ở Nhật Bản tại đây: Ăn ở Nhật Bản

Uống

Người Nhật uống rất nhiều: không chỉ trà xanh ở công sở, ở các cuộc họp hay bữa ăn mà còn đủ các loại đồ uống có cồn vào buổi tối với bạn bè và đồng nghiệp.
Ở Nhật, tuổi uống rượu là 20 (giống độ tuổi hút thuốc lá). Độ tuổi này cao hơn nhiều so với hầu hết các nước châu Âu và châu Mỹ (trừ Mỹ). Tuy nhiên, giấy căn cước hầu như chẳng bao giờ bị hỏi ở các nhà hàng, quán bar, cửa hàng tiện ích hoặc những nơi bán rượu khác, miễn là người mua hàng nhìn không quá trẻ. Ngoại lệ duy nhất là tại những club lớn ở Shibuya, Tokyo, nơi giới trẻ Tokyo hay lui tới và trong những khoảng thời gian đông đúc, mọi người vào câu lạc bộ đều phải trình thẻ. Tuy nhiên, hầu hết câu lạc bộ sẽ chấp nhận mọi hình thức thẻ ID. Thường họ sẽ yêu cầu hộ chiếu, nhưng nếu bạn đưa cho họ bằng lái xe (dù hợp pháp hay không), họ cũng đều chấp nhận.

Nơi uống

Nếu bạn muốn có một buổi tối ăn uống trong một bầu không khí giải trí truyền thống, hãy đến một izakaya (居酒屋, quán rượu kiểu Nhật), được nhận dạng dễ dàng bởi đèn lồng đỏ với chữ "酒" (rượu) treo phía trước. Rất nhiều trong số này có bán những suất uống – tùy- thích (飲み放題 nomihōdai) với giá khoảng ¥1,000 (US$10) trong vòng 90 phút (trung bình), nhưng bạn sẽ bị hạn chế một số loại đồ uống nhất định. Một quán izakaya thường có bầu không khí rất vui vẻ và náo động, vì nó thường đóng vai trò như là phòng khách chung của đủ loại người từ nhân viên công sở, sinh viên đến người lớn tuổi. Đồ ăn thì đều rất tốt và giá cả phải chăng, và nói tóm lại, những quán này là một trải nghiệm bạn không thể bỏ lỡ.

Tuy những quán bar kiểu Tây cũng có thể thấy ở chỗ này chỗ kia với mức giá phổ biến ¥500-1,000 cho các loại đồ uống thì có một loại quán của Nhật thông dụng hơn là snack (スナック sunakku). Những quán này làm ăn hơi lén lút và là nơi có các tiếp viên rót rượu, hát karaoke và giải trí (hay hơn cả thế) cho khách, có giá khoảng ¥3,000/h phí dịch vụ. Khách du lịch có thể sẽ thấy không hợp với những nơi này lắm và nhiều quán thậm chí còn không chấp nhận những khách hàng không phải là người Nhật.

Những quán bar dành cho dân đồng tính khá là hiếm ở Nhật, nhưng những quận như Shinjuku ni-chome ở Tokyo và Doyama-cho ở Osaka thì lúc nào cũng đông đúc dân đồng tính. Hầu hết những quán bar đồng tính phục vụ một bộ phận khách nhỏ (những thanh niên lực lưỡng chẳng hạn) và không cho phép những ai không liên quan vào cửa, kể cả những người khác giới. Chỉ có một vài người là người Nhật, và người nước ngoài được chào đón ở hầu hết các bar.

Chú ý rằng các quán izakaya, bar và snack có thu phí vào cửa (カバーチャージ kabā chāji), thông thường là khoảng ¥500 nhưng sẽ cao hơn vào một số dịp đặc biệt, vì thế hãy hỏi trước nếu bỗng dưng thấy những quán này được trang trí đẹp mắt hơn thường lệ. Ở izakaya những dịp này sẽ được phục vụ thêm một vài món ăn khai vị ((お通し otōshi) khi bạn ngồi vào bàn, và bạn không được phép từ chối và phải trả tiền. Một số bar còn thu phí vào cửa và phí trả cho đậu phộng bạn ăn kèm với bia.

Máy bán hàng tự động (自動販売機 jidōhanbaiki) có mặt khắp nơi ở Nhật và phục vụ đồ uống suốt 24 tiếng đồng hồ một ngày với giá ¥120-150 một lon/chai, nhưng ở một số nơi biệt lập, như ở trên đỉnh núi Fuji, sẽ đắt hơn. Ngoài đồ uống có ga, trà và cà phê, bạn có thể tìm thấy những chiếc máy bán hàng bán cả bia, sake và cả rượu mạnh. Mùa đông, một số máy sẽ có cả đồ uống nóng – hãy tìm nhãn màu đỏ với chữ あたたかい (atatakai) chứ không phải chữ màu xanh つめたい (tsumetai) như thường lệ. Những máy bán hàng có bán đồ uống có cồn thường ngừng hoạt động vào 11h tối. Càng ngày càng có nhiều máy bán hàng (nhất là những máy gần trường học) yêu cầu thẻ “Sake Pass” đặc biệt được lấy tại hội đồng thành phố tại địa phương. Tấm thẻ được cấp cho bất cứ ai từ 20 tuổi trở lên. Nhiều máy bán hàng ở khu vực trung tâm Tokyo chấp nhận thanh toán bằng thẻ JR Suica hoặc PASMO.

Sake/ nihonshu

Sake là loại đồ uống có cồn lên men được ủ từ gạo. Tuy thường được gọi là rượu trắng nhưng trên thực tế quá trình làm sake hoàn toàn khác với quá trình làm rượu hay bia. Quá trình lên men sử dụng mốc vàng để thủy phân tinh bột và dùng men để tạo ra cồn. Từ tiếng Nhật sake (酒) thực ra có thể chỉ tất cả các loại đồ uống có còn, và ở Nhật từ nihonshu (日本酒) là từ thường được người phương Tây dùng để chỉ sake.

Sake chỉ có độ cồn khoảng 15%, và có thể được uống ở nhiều nhiệt độ từ nóng (熱燗 atsukan) đến nhiệt độ phòng (常温jo-on), xuống đến lạnh (冷や hiya). Ngược lại với những gì mọi người thường nghĩ, hầu hết sake không được uống nóng, mà thường được uống lạnh. Mỗi chai sake được ủ ở nhiệt độ thích hợp, nhưng hầu hết trường hợp đều an toàn ở nhiệt độ phòng. Nếu bạn định uống thử một ít sake nóng hoặc lạnh ở nhà hàng, hãy nghe gợi ý từ phục vụ bàn hoặc nhân viên pha chế. Ở các nhà hàng, sake có thể có giá từ ¥500 trở lên.

Sake có những bộ đồ uống và cách đo lường riêng. Chiếc chén sứ nhỏ được gọi là choko (ちょこ), và chiếc bình sứ nhỏ dùng để rót gọi là tokkuri (徳利). Đôi khi sake được rót vào một bộ chén nhỏ đặt trong một hộp gỗ để hứng rượu rớt ra ngoài khi người phục vụ rót rượu tràn ra cốc. Uống sake trong chén, sau đó đổ phần rượu đã rớt ra vào trong chén của bạn. Thỉnh thoảng, đặc biệt là khi uống sake lạnh, bạn nhấp sake từ phần góc một hộp gỗ tuyết tùng gọi là masu (枡), đôi khi có một ít muối trên miệng hộp. Đặc biệt sake được đong bằng gō (合, 180 mL), có kích thước giống một chiếc tokkuri, cứ mười gō sẽ đong được một chai tiêu chuẩn 1.8 lít isshōbin (一升瓶).

Nghệ thuật thưởng thức sake cũng phức tạp không kém thưởng thức rượu, nhưng một chỉ số cần biến đến là “độ sake” nihonshudo (日本酒度), thường được in trên chai và trên thực đơn. Hiểu đơn giản, “độ sake” đo độ ngọt của sake, với giá trị dương chỉ sake nguyên chất hơn và giá trị âm chỉ độ ngọt hơn. Giá trị trung bình thường vào khoảng +2.

Sake được ủ qua nhiều công đoạn và theo nhiều cách tùy thuộc vào mức độ xay nhuyễn của gạo như thế nào, có thêm nước hay cồn vào hay không. Ginjō (吟醸) và daiginjō (大吟醸) là đơn vị đo mức độ nhuyễn của gạo, trong đó daiginjo nghĩa là gạo xay nhuyễn hơn tương ứng với giá thành đắt hơn. Hai loại này đều cho thêm cồn chủ yếu để tăng hương vị và mùi thơm. Honjōzō (本醸造) thì gạo kém mịn hơn, có thêm cồn và có thể rẻ hơn, là một loại sake uống hàng ngày. Junmai (純米), nghĩa là gạo nguyên chất, là từ thêm vào để cho biết loại sake chỉ được làm từ gạo. Khi mua sake, giá cả thường phản ánh khá đúng chất lượng.

Một loại rượu đặc biệt nữa cũng rất đáng thử nếu bạn muốn. Nigorizake (濁り酒) được lọc qua loa và nhìn đùng đục, với một ít cặn trắng ở dưới đáy chai. Lắc nhẹ chai một hai lần để hòa cặn trắng này vào nước. Tuy hầu hết sake đều không thể để được lâu, một số nhà sản xuất có thể tạo ra sake để lâu ngày với vị mạnh hơn và đậm màu hơn. Những sake ủ lâu hay koshu (古酒) này uống quen mới có thể thích được, nhưng cũng rất đáng để khám phá sau bữa ăn.

Đáng được nói tới là amazake (甘酒), tương tự như phiên bản rượu chưa tinh chế làm tại gia doburoku (どぶろく) của sake, được uống nóng vào mùa đông (thường được phát miễn phí ở các ngôi đền vào ngày Năm Mới). Amazake có lượng cồn rất thấp và có vị rất giống hỗn hợp gạo lên men (nói vậy nhưng uống thì ngon hơn bạn nghĩ), nhưng ít ra nó rất rẻ. Giống như cái tên ám chỉ, nó có vị ngọt.
Nếu bạn tò mò về sake, Hiệp hội những nhà sản xuất Sake Nhật Bản có một phiên bản online English brochure bằng Tiếng Anh. Bạn cũng có thể ghé qua phòng trưng bày Sake ở Shinbashi, Tokyo và nếm thử các loại sake khác nhau chỉ với vài trăm yên.

Shochu

Shōchū (焼酎) là anh cả của sake, một loại rượu nguyên chất có vị mạnh hơn. Có hai loại shōchū chủ yếu; loại truyền thống hầu hết được làm từ gạo, khoai hoặc ngũ cốc, nhưng cũng có thể được làm từ các nguyên liệu khác như khoai tây. Loại còn lại thì được làm từ đường theo kiểu công nghiệp, qua nhiều bước chưng cất liên tục, thường được uống và dùng như một loại đồ uống ướp lạnh pha với nước hoa quả hoặc soda gọi là chū-hai, viết tắt của “shōchū highball”. (Tuy nhiên lưu ý là những lon chū-hai được bày bán trên kệ sẽ không ghi chữ shōchū nhưng lại rẻ hơn cả loại nước uống cồn khác).

Shōchū thường có nồng độ còn 25% (mặc dù một số loại có thể mạnh hơn) và có thể uống trực tiếp, dùng với đá hay pha với nước nóng hoặc nước lạnh tùy theo sở thích. Đã từng là loại đồ uống duy nhất của dân lao động, và cho đến giờ vẫn là loại đồ uống rẻ nhất với giá dưới ¥1000 một trai lớn 1 lít, những năm gần đây loại shōchū truyền thống đang thịnh hành trở lại và shōchū hảo hạng nhất bây giờ có thể có giá cao bằng loại rượu sake tốt nhất.

Rượu

Umeshu (梅酒) thường bị gọi nhầm là “rượu mận”, được làm bằng cách nhúng những quả mận ume Nhật Bản (thực ra là một loại mơ) vào trong rượu trắng để ngâm, và hương vị sực nức rất đặc trưng của đường nâu ngọt và mận chua đã làm say mê biết bao du khách. Thường có độ cồn 10-15%, umeshu có thể uống trực tiếp, cho thêm đá (rokku) hoặc pha với soda (soda-wari).

Bia

Có một vài nhãn hiệu bia Nhật nổi tiếng (ビール biiru) như Kirin, Asahi, Sapporo và Suntory. Nhãn hiệu ít thấy hơn là Okinawan, Orion cũng rất ngon. Yebisu cũng là loại bia phổ biến do Sapporo sản xuất. Bia tự ủ (microbrew) cũng bắt đầu xuất hiện ở Nhật và được bán ở một số nhà hàng, những vẫn còn hiếm. Hầu hết các loại bia đều nhẹ, nồng đồ trung bình 5%.

Bạn có thể mua bia đựng trong bình ở mọi kích thước, nhưng ở các nhà hàng Nhật, bia thường là bia chai (瓶 bin) hoặc là bia hơi (生 nama nghĩa là “tươi”). Các chai có ba kích cỡ大瓶 ōbin (chai lớn 0.66 lít), 中瓶 chūbin (chai trung bình 0.5 lít) và小瓶 kobin (chai nhỏ 0.33 lít), trong đó chai trung bình là phổ biến nhất. Với những chai lớn bạn có thể được tham gia tục lệ trút rượu đầy chén cho bạn bè (và cả của bạn nữa). Nếu bạn gọi bia tươi,mỗi người sẽ nhận được một vại riêng (jokki). Ở nhiều nhà hàng, một dai-jokki ("vại lớn") đựng 1 lít bia.
Một số nhân viên phục vụ Nhật có một thói quen rất khó chịu là rót bia đến nửa cốc là bọt, vì thế thực ra chỉ có nửa cốc thật sự là bia. Mặc dù người Nhật thích rót bia tươi kiểu này, bạn sẽ cảm thấy nó khá là bực mình, nhất là khi bạn trả ¥600 cho cốc bia giống ở các nhà hàng và quán bar khác. Nếu bạn dám yêu cầu rót ít bọt hơn, hãy nói awa wa sukoshi dake ni shite kudasai (“làm ơn cho ít bọt thôi”). Bạn sẽ hơi gây khó khăn cho người phục vụ, nhưng lại có một cốc đầy bia.

Những quán rượu Guinness gần đây đã bắt đầu có mặt trên cả nước, rất tốt cho những ai thích bia vùng Ailen.

Đối với những người có đầu óc khôi hài, hãy thử kodomo biiru (こどもビール, nghĩa đen là Beer dành cho trẻ em), một sản phẩm nhìn giống như bia thật nhưng thực ra lại được làm cho trẻ em (thành phần cồn 0%).

Happōshu và bia thứ ba

Do luật về việc cấp phép rượu khá phức tạp của Nhật nên trên thị trường có hai loại sản phẩm gần giống như bia: happōshu (発泡酒), hay bia mạch nha, và một loại gọi là bia thứ ba (第3のビール dai-san no biiru), sử dụng các nguyên liệu như đậu tương hay ngô thay cho mạch nha. Có mức giá thấp ¥120, cả hai loại này đều rẻ hơn loại bia “thật” rất nhiều, nhưng vị nhẹ hơn và gần giống với nước lọc. Chúng được đóng chai khá là giống với bia thật của các nhãn hiệu như “Draft One” của Sappporo và “Hon-Nama” của Asahi, vì vậy khi mua hãy để ý đáy lon: theo luật, những chai này không được ghi làビール (beer), mà phải ghi là発泡酒 (happoshu), hoặc với loại bia thứ ba phải ghi làその他の雑酒(2) (sono ta no zasshu(2), nghĩa là "Hỗn hợp cồn, loại 2"). Uống chỉ vừa phải thôi vì cả hai loại đồ uống này đều có thể khiến bạn bị đau đầu giữa đêm.

Rượu Tây

Rượu Nhật thực ra khá là ngon nhưng giá cả thì lại gấp khoảng hai lần so với rượu từ các nước khác. Hiện có rất nhiều loại rượu, và rượu nhập khẩu với nhiều mức giá khác nhau đều có bán trên toàn quốc. Các cửa hàng chuyên bán rượu và các cửa hàng bách hóa ở các thành phố lớn cung cấp rất nhiều lựa chọn. Một trong những khu vực sản xuất rượu nội địa lớn nhất nước Nhật là Quận Yamanashi, và một trong số nhà sản xuất lớn nhất Nhật Bản, Suntory, còn có tour tham quan nhà máy rượu của họ. Hầu hết rượu, cả rượu trắng và rượu đỏ, đều được uống lạnh và có thể sẽ khó mà kiếm được rượu có nhiệt độ phòng (常温 jō-on) khi đi ăn ở bên ngoài.

Trà

Cho đến nay loại đồ uống phổ biến nhất vẫn là trà xanh (お茶 o-cha), được phục vụ miễn phí ở hầu hết các bữa ăn, trà nóng vào mùa đông và lạnh vào mùa hè. Có rất nhiều loại trà được đóng trong chai hoặc lon trong tủ lạnh của các cửa hàng tiện ích và ở các máy bán hàng tự động. Loại trà đen kiểu phương Tây được gọi là kōcha (紅茶), khi mua bạn cần phải hỏi kĩ, nếu không bạn sẽ mua nhầm trà xanh hoặc trà nâu của Nhật. Trà Ô Long của Trung Quốc cũng rất phổ biến.

Các loại trà chính của Nhật là
• sencha (煎茶), loại trà xanh thông dụng
• matcha (抹茶), loại bột trà xanh dùng trong trà đạo. Giá càng thấp thì càng đắng và càng đắt thì càng ngọt.
• hōjicha (ほうじ茶), trà xanh rang
• genmaicha (玄米茶), trà với gạo rang, vị giống bỏng ngô
• mugicha (麦茶), một loại đồ uống lúa mạch rang, uống với đá vào mùa hè.
Giống như trà Trung Hoa, trà Nhật Bản thường được uống nguyên chất, không dùng thêm sữa hay đường. Tuy nhiên, trà sữa kiểu phương Tây có thể được thấy ở hầu hết các cửa hàng ăn nhanh của Mỹ.

Cà phê

Cà phê (コーヒー kōhī) khá phổ biến ở Nhật, mặc dù không phải là thức uống điển hình trong các bữa sáng. Nó thường được pha đặc như kiểu cà phê châu Âu, còn cà phê loãng và nhẹ hơn thì gọi là cà phê American. Cà phê lon (nóng và lạnh) thì ít phổ biến hơn, được bán rộng rãi ở các máy bán hàng tự động giống như các loại đồ uống khác với giá ¥120 một lon. Hều hết cà phê lon đều ngọt, vì thế nên tìm những nhãn hiệu có chữ Tiếng Anh “Black” hoặc chữ kanji無糖 (không đường) nếu bạn không muốn uống cà phê ngọt. Cà phê lọc caffeine rất hiếm ở Nhật, ngay cả ở Starbucks, nhưng vẫn có bán ở một vài nơi.

Có rất nhiều quán cà phê ở Nhật, bao gồm cả Starbucks. Những quán cà phê trong nước lớn gồm có Doutor (nổi tiếng vì giá rẻ) và Excelsior. Một vài nhà hàng, như Mister Donut, Jonathan’s và Skylark cũng phục vụ cà phê uống thoải mái dành cho những ai cực kì nghiện caffeine (hoặc muốn thức đêm để làm việc).

Đồ uống có ga

Có rất nhiều loại đồ uống ga độc đáo của Nhật và thử lấy một đồ uống bất kì từ máy bán hàng tự động là một trong những thú vui nho nhỏ ở đây. Một số loại có thể kể đến là Calpis (カルピス), một loại đồ uống có ga vị sữa chua và Pocari Sweat (một loại đồ uống isotonic giống kiểu Gatorade). Một loại đồ uống ga truyền thống của Nhật là Ramune (ラムネ) gần giống với Sprite hay 7-Up nhưng gây chú ý ở kiểu chai khác lạ: người ta phải đẩy một viên tròn nhỏ ở miệng chai xuống chứ không dùng cái bật nắp bình thường.

Hầu hết các nhãn hiệu đồ uống có ga của Mỹ (Coca-Cola, Pepsi, Mountain Dew) đều được bán rộng rãi. Lựa chọn duy nhất cho soda dành cho người ăn kiêng là Diet Coke, Coke Zero, hoặc Diet Pepsi. Root Beer hầu như không thể tìm thấy ở đâu ngoài những cửa hàng chuyên nhập khẩu đồ ăn hoặc ở Okinawa. Tuy nhiên nước gừng lại rất phổ biến và có thể tìm thấy ở máy bán hàng. Những loại đồ uống tăng lực có caffein cũng có bán ở các cửa hàng trong nước (thường được pha với sâm).
Ở Nhật, từ “nước hoa quá” (ジュース jūsu) là từ dùng để chỉ chung tất cả các loại đồ uống hoa quả có ga – có khi cả Coca-Cola hay kiểu như thế - và chẳng loại nào là hoa quả nguyên chất 100% cả. Vì vậy nếu bạn muốn nước ép hoa quả, hãy hỏi mua kajū (果汁). Đồ uống ở Nhật được yêu cầu phải ghi rõ phần trăm hàm lượng hoa quả trên nhãn; vì thế sẽ rất có ích để đảm bảo rằng bạn mua được loại đồ uống 100% nước cam mà bạn muốn, chứ không phải là loại chỉ có 20% thông thường.

Tắm

Onsen

Onsen (温泉), nghĩa đen là “suối nước nóng”, là trải nghiệm tắm mình đỉnh cao ở Nhật. Những dãy nhà nghỉ suối nước nóng xuất hiện ở bất cứ đâu có nguồn suối nước nóng phù hợp, và ở vùng đất núi lửa Japan, chúng có ở khắp nơi. Trải nghiệm tắm suối nước nóng đáng nhớ nhất thường là otenburo (露天風呂): tắm ngoài trời với cảnh trí thiên nhiên bao quanh. Mặc dù bồn tắm rất rộng và thường dùng chung, một số nhà nghỉ lớn sẽ cung cấp dịch vụ đặt trước bồn tắm chỉ dành cho riêng bạn, thường là phải trả thêm phí. Những bồn tắm này gọi là bồn tắm gia đình, hấp dẫn hơn thì là “bồn tắm tình nhân” hay chỉ đơn giản gọi là bồn tắm đã được đặt (貸切風呂 kashikiri-furo). Bồn tắm nước nóng có thể là bồn tắm dành cho tất cả mọi người (外湯 sotoyu) hoặc là loại bồn tắm riêng chỉ dành cho khách thuê trọ (内湯 uchiyu).

Mặc dù hầu hết các onsen hoạt động vì lợi ích thương mại và thu phí vào cửa (thường ¥500-1000), nhất là ở những vùng nông thôn, vẫn có những nhà tắm công cộng chỉ cung cấp những điều kiện tối thiểu nhất nhưng cảnh trí xung quanh lại cực kì đẹp để bù đắp. Rất nhiều trong số nhà tắm này là dành cho cả nam lẫn nữ (混浴 kon'yoku), nhưng nếu như đàn ông vẫn trần truồng đi lại vui vẻ trong nhà tắm chỉ với một chiếc khăn che vùng kín thì ngày nay hiếm có phụ nữ nào đi vào những chỗ như thế này mà không có đồ tắm. Những bể tắm tư hay bể tắm công cộng đang có xu hướng yêu cầu phải có đồ tắm đối với cả hai giới.

Để tìm những nhà nghỉ suối nước nóng độc đáo, hãy ghé thăm trang Japanese Association to Protect Hidden Hot Springs (日本秘湯を守る会 Nihon hitō wo mamoru kai), bao gồm 185 nhà trọ độc lập trên cả nước.

Rất nhiều onsen cấm cửa những khách hàng có hình xăm để tránh xa dân xã hội đen yakuza (những người này thường có hình xăm toàn bộ lưng). Luật này thường được áp dụng một cách tương đối, nhưng những khách xăm quá nhiều nếu được vào thì sau đó cũng sẽ nhận được những cái nhìn tò mò và bị yêu cầu rời đi.

Sentō và spa

Sentō (銭湯), là nhà tắm công cộng có thể được tìm thấy ở mọi thành phố lớn. Dành cho những người không có bồn tắm tại nhà, những nhà tắm này rất thiết thực nhưng đang dần biến mất khi Nhật Bản tiến hành hiện đại hóa. Tuy nhiên, một số thì đã lên hàng cao cấp và biến đổi thành spa (スパ supa). Spa ở Nhật Bản không giống với những căn nhà gỗ ở Bali cung cấp dịch vụ massage Ayurvedic và rải hoa lan mà là nhà tắm công cộng dành cho giới công sở mệt mỏi vì công việc, đi kèm với khách sạn capsule. Đúng như bạn nghĩ,những spa này có nhiều cấp độ chính thống khác nhau nhưng phần lớn đều cực kì tao nhã.

Nghi thức tắm

Người Nhật rất thông cảm cho những hành động kì cục của khách nước ngoài, nhưng có một luật lệ không bao giờ có ngoại lệ : bạn phải tắm thật sạch và rửa trôi hết bọt xà phòng trước khi bước vào bồn tắm. Nước trong bồn sẽ được người tiếp theo sử dụng lại, và người Nhật cho rằng ngâm mình trong nước bẩn của người khác để lại thật đáng kinh tởm! Nói chung, hãy tắm thật sạch như là bạn muốn người tắm trước bạn làm vậy.

Dù là một onsen đẹp đẽ hay là một sentō đơn giản, trình tự của một lần tắm thường diễn ra như sau:
Khu vực phòng tắm chung thường tách riêng nam và nữ, vì thế tìm chữ "man" (男) và "woman" (女) để tìm lối đi cho đúng. Phòng tắm của nam thường có rèm xanh, còn của nữ thường màu đỏ. Vào phòng thay đồ, cởi giầy dép để ở lối cửa vào ; ở phòng tắm công cộng thì có thể có tủ khóa đựng đồ.

Ở phòng tắm công cộng (sentō), bạn có thể trả tiền tắm trực tiếp cho nhân viên (thường là qua cửa phòng thay đồ, và nhân viên hầu hết là phụ nữ) hoặc dùng máy bán hàng ở ngoài cửa để mua vé vào và những vật dụng khác như khăn mặt hay xà bông và đưa vé này cho nhân viên. Trên máy bán hàng, tìm ở gần phía trên có chữ Nhật từ « người lớn » (大人 otona) và « trẻ em » (子供 kodomo). (Nếu máy bán hàng quá khó dùng, có lẽ bạn nên đi vào và nói sumimasen (« xin lỗi ») với nhân viên và dùng cử chỉ diễn đạt ý bạn muốn.

Trong phòng thay đồ sẽ có những hàng tủ hoặc giỏ quần áo. Chọn một tủ và cởi toàn bộ quần áo, để tất cả trang phục vào trong. Hãy chắc chắn là để những vật dụng quý giá vào tủ khóa nếu có, và mang theo chìa khóa vào trong phòng tắm.
Bạn sẽ được cho một khăn tắm nhỏ miễn phí, hoặc thỉnh thoảng có thể mất chút tiền. Nó không hề đủ để che những chỗ cần thiết (vì quá nhỏ) và nó cũng chẳng được dùng để lau khô. Cũng có loại khăn tắm lớn hơn và thỉnh thoảng cũng phải trả tiền mua; đàn ông thường để lại những khăn lớn này ở phòng thay đồ và chỉ lấy khăn tắm nhỏ, nhưng phụ nữ có thể dùng chúng để quấn người. Nếu bạn muốn một cái thì hãy yêu cầu nhân viên một chiếc « taoru ».

Sau khi đã cởi bỏ quần áo và vào khu vực tắm, lấy một chiếc ghế nhỏ và một chiếc xô, ngồi xuống tại vòi nước và tắm rửa thật sạch sẽ. Gội đầu, xoa xà bông lên toàn bộ cơ thể và lặp đi lặp lại. Xả hết toàn bộ bọt xà phòng sau khi tắm. Cố gắng không để vòi nước chảy không hoặc làm bắn nước lên người khác.

Chỉ sau đó bạn mới được bước vào bồn tắm. Bước vào chầm chậm, vì nước có thể sẽ cực kì nóng ; nếu nước quá nóng thì hãy thử bồn khác. Vào bồn tắm rồi thì không được để chiếc khăn tắm nhỏ chạm vào nước, vì như vậy bị coi là không tốt ; bạn có thể gập nó lại để lên đầu, hoặc đặt nó qua một bên. Khi đã ngâm đủ lâu, bạn có thể cọ lại người lần nữa nếu muốn và lặp lại quá trình như trên; bạn cũng có thể gội lại đầu sau khi tắm nếu muốn. (Tuy nhiên ở những suối nước nóng tự nhiên thì bạn không nên xả hết nước tắm vì trong đó có rất nhiều khoáng chất được người Nhật coi là phương thuốc dân gian tốt cho sức khỏe).

Chú ý là bồn tắm là nơi dành cho ngâm mình và nói chuyện nhẹ nhàng , vì thế không được cười đùa, lặn đầu xuống nước hay gây ồn. Người Nhật có lẽ hơi cảnh giác với người nước ngoài trong bồn, phần lớn bởi vì họ sợ rằng bạn sẽ nói với họ bằng Tiếng Anh và họ sẽ bối rối khi không thể nói chuyện với bạn. Chỉ cần cúi đầu hoặc gật đầu chào, nói ohayo gozaimasu, konnichiwa, konbanwa tùy vào thời gian trong ngày, và chờ xem họ có muốn nói chuyện với bạn không.

Sau khi tắm xong, bạn sẽ đến một phòng thư giãn (休憩室 kyūkeishitsu) và phòng này luôn được trang bị máy bán bia bên cạnh. Hãy cứ thoải mái nằm dài trong bộ đồ yukata, nhấm nháp bia, nói chuyện với bạn bè hay ngủ một giấc cũng được.

Toilet

Có một số đặc điểm của toilet Nhật cần được nhắc đến. Giống như bất cứ đâu ở châu Á, bạn sẽ thấy có cả hai loại là bồn cầu sứ kiểu phương Tây và xí bệt ngồi xổm. (Nếu bạn chưa biết dùng thì đơn giản thôi : kéo quần xuống đến đầu gối và ngồi xổm xuống, quay mặt về phía đầu của toilet. Ngồi càng gần đầu càng tốt, nếu không có thể bị trượt)

Ở nhà riêng và những nhà nghỉ kiểu home-style, bạn thường thấy dép đi trong toilet và chỉ đi trong toilet mà thôi.

Tuy nhiên, hầu hết du khách đều bị ấn tượng bởi một sự thật không thể chối cãi rằng Nhật Bản đúng là nước đi đầu trong công nghệ toilet. Hơn một nửa các gia đình Nhật đều được trang bị những thiết bị công nghệ cao như bồn cầu điện tử washlet (ウォシュレット), một loại bồn cầu tích hợp đủ loại công dụng tiện lợi như làm ấm chỗ ngồi, máy sấy khô bằng khí ấm và một vòi rửa robot nhỏ có thể phun nước. Thiết bị hoạt động thông qua một bảng điểu khiển và có thể lên tới 30 nút bấm (tất cả đều được ghi chú bằng Tiếng Nhật) thoạt nhìn khá là giống bảng điều khiển của tàu vũ trụ.

Dù vậy cũng đừng sợ - kiểu gì cũng sẽ có cách. Chìa khóa đầu tiên để giải bài toán này là cơ chế xả thực sự thường không được vận hành qua bảng điều khiển mà sẽ luôn có cần gạt, công tắc hay nút bấm quen thuộc kiểu phương Tây ở đâu đó và vì thế bạn hoàn toàn có thể tự lo liệu mà không cần phải dùng đến các tính năng của washlet. (Trong rất ít trường hợp, với kiểu bồn cầu tân tiến nhất, xả nước cũng được tích hợp trong đó, khi đó hãy tìm nút bấm có chữ 大 hoặc 小, có nghĩa là xả mạnh hay xả nhẹ, trên bảng điều khiển không dây trên tường). Điều quan trọng thứ hai là luôn có một nút bấm to màu đỏ có chữ 止 trên bảng điều khiển - ấn nút này sẽ ngay lập tức dừng mọi hoạt động lại. Những kiểu cũ hơn thì có một cần gạt gần đó để điều khiển dòng chảy của vòi phun.

Trang bị những kiến thức sau đây sẽ giúp bạn có thể hiểu rõ hơn. Một bảng điều khiển điển hình có những thứ sau :
• Oshiri (おしり) – “buttocks” để phun phía sau – thường có màu xanh và hình cái mông; việc này có thể hơi kì cục, nhưng khách du lịch không nên e sợ gì cả - làm hai ba lần là sẽ quen.
• Bidet (ビデ) – để phun phía trước – thường có màu hồng với kí hiệu nữ giới
• Kansō (乾燥) – “sấy khô”, để sấy khô khi xong – có màu vàng với hình không khí lượn sóng.

Ngoài ra, những nút nhỏ hơn có thể được dùng để điều chỉnh chính xác lực, góc, vị trí và độ rung của tia nước. Đôi khi chỗ ngồi bồn cầu được sưởi ấm, và cái này cũng có thể điều chỉnh được. Phải sưởi ấm như vậy do những ngôi nhà Nhật thường không có hệ thống sưởi trung tâm, nên việc đi vệ sinh sẽ dễ chịu hơn khi chỗ ngồi đã được làm ấm trước. Hãy lịch sự và tiết kiệm nhiên liệu, bạn nên đậy lại nắp bồn cầu khi dùng xong.

Ngủ

Ngoài những nhà nghỉ và những khách sạn lớn, bạn có thể tìm thấy rất nhiều nơi ở đặc trưng phong cách Nhật, từ những nhà trọ ryokan đến những khách sạn capsule cực kì tiện dụng hay những khách sạn tình yêu phóng túng.

Khi đặt chỗ ở Nhật, lưu ý rằng nhiều nơi sẽ do dự khi chấp nhận người nước ngoài, vì e sợ rào cản ngôn ngữ hay khác biệt về văn hóa. Thay vì gọi điện nói chuyện bằng Tiếng Anh, tốt hơn hết bạn nên nhờ một người quen người Nhật hoặc văn phòng du lịch địa phương đặt phòng giúp bạn. Hoặc cách khác là với giá cước Internet rẻ thì công cụ tìm kiếm Rakuten cực kì hữu dụng. Chú ý là giá hầu hết là tính theo đầu người chứ không tính theo phòng. Nếu không bạn có thể sẽ khá bất ngờ và khó chịu khi trả phòng.

Khi nhận phòng, theo luật, khách sạn phải có photo hộ chiếu của bạn trừ khi bạn là dân bản địa Nhật Bản. Đó là một điều rất hay vì chỉ cần trình bản sao của hộ chiếu và giúp làm thủ tục nhận phòng nhanh hơn, đặc biệt là nếu bạn đi theo nhóm. Ngoài ra, nhớ là Nhật Bản là đất nước chủ yếu tiêu tiền mặt, và thẻ tín dụng thường không được chấp nhận ở những nơi ở dạng nhỏ, bao gồm, nhưng không giới hạn trong, những khách sạn nhỏ. Nhớ mang đủ tiền để có thể thanh toán trước khi nhận phòng.

Một điều cần chú ý trong mùa đông : Những ngôi nhà Nhật được thiết kế sao cho thật mát mẻ vào mùa hè, điều này cũng có nghĩa là nó sẽ lạnh cóng vào mùa đông. Hãy mặc thật nhiều áo và tận dụng các phòng tắm để làm ấm người ; may mắn là giường futon thường khá ấm nên có một giấc ngủ ngon không phải là vấn đề.
Mặc dù chỗ ở tại Nhật rất đắt, bạn sẽ nhận ra bạn có thể ở một cách thoải mái trong những khách sạn hạng thấp hơn so với các nước khác. Phòng tắm chung thường sạch bong, và trộm cắp ở Nhật thì rất hiếm. Chỉ có điều đừng mong là sẽ được dậy muộn : giờ check-out cố định là 10h sáng, và bất cứ sự chậm trễ nào cũng phải trả thêm tiền.

Bạn có thể sẽ khó khăn trong việc tìm phòng vào những kì nghỉ lễ; ví dụ như « Tuần Lễ Vàng » vào đầu tháng Năm, và giá tối thứ Bảy thường cao hơn. Nhưng những khách sạn kinh doanh Tokyu-inn thì thường có phòng trống, và website của họ thì rất tốt.

Khách sạn

Những khách sạn thương hiệu châu Âu rất hiếm ở ngoài Tokyo và Osaka mà ở đó thường có những thương hiệu Nhật như JAL/Nikko, Rihga Royal và Prince. Khách sạn năm sao với đầy đủ dịch vụ có thể sẽ phục vụ cực kì chu đáo, nhưng bên ngoài thì nhìn khá đơn điệu và giống nhau, mặc dù giá cả rất đắt đỏ với giá từ ¥20.000 trở lên cho mỗi người (không phải mỗi phòng). Tuy nhiên, có một vài loại khách sạn có giá hợp lý và đậm phong cách Nhật như :

Khách sạn capsule

Khách sạn capsule (« capsule » là khoang nhỏ, hộp nhỏ) tận dụng tối đa không gian nghỉ ngơi một cách hiệu quả : với mức giá thấp (thường khoảng ¥3.000 đến ¥4.000), khách sẽ thuê một capsule, kích thước khoảng 2x1x1m , được xếp chồng lên nhau thành hai hàng trong một căn phòng bao gồm 10 hay 100 capsules. Khách sạn capsule được tách ra nam nữ, và chỉ có một vài chỗ dành cho nữ.

Để vào khách sạn capsule, cởi giầy ra, đặt chúng trong tủ khóa và đi đôi dép trong nhà vào. Bạn sẽ phải đưa lại chìa khóa tủ cho bàn tiếp tân để đảm bảo là bạn không chuồn mất mà không trả tiền. Khi check in bạn sẽ được cho một tủ khóa để đựng đồ đạc vì không có chỗ trống trong capsule và an ninh thì không bảo đảm vì hầu hết capsule chỉ có rèm che chứ không có cửa. Nếu chỉ có rèm cửa thì hãy cẩn thận vì có thể sẽ có những cánh tay mò mẫm từ bên ngoài.

Rất nhiều nhưng không phải là hầu hết khách sạn đều có spa với mức độ sang trọng hay bình dân khác nhau, thường giá vào spa là ¥2.000, nhưng capsule thì chỉ cần thêm ¥1.000 nữa. Ngoài ra, ở những khách sạn capsule rẻ hơn sẽ cần phải nhét đồng xu ¥100 để cho vòi tắm hoạt động. Vì đây là Nhật Bản nên lúc nào cũng sẽ có máy bán hàng ngay cạnh để mua bàn chải đánh răng, quần áo lót và những thứ lặt vặt khác.

Ngay khi bạn đã rút vào trong capsule, bạn sẽ thấy một bảng điều khiển đơn giản để bật đèn, đồng hồ báo thức và TV gắn tường. Nếu bạn ngủ quên và dậy muộn, bạn có thể sẽ bị mất thêm tiền phòng một ngày.

Ở những quận Shinjuku và Shibuya ở Tokyo, những khách sạn capsule có giá ít nhất là ¥3.500, nhưng có ghế massage, phòng tắm hơi, phòng tắm công cộng, dao cạo và dầu gội đầu dùng một lần, tạp chí và cà phê buổi sáng miễn phí rất tuyệt vời. Tuy nhiên, nhớ là cửa capsule chỉ là một tấm rèm để ngăn ánh sáng ra ngoài. Bạn sẽ có thể nghe thấy tiếng động đều đặn phát ra từ những kẻ say rượu hay từ những doanh nhân đang ngái ngủ bò vào trong capsule của họ ở phía trên hay bên cạnh trước khi chìm vào giấc ngủ.

Khách sạn tình yêu

Khách sạn tình yêu nghe có vẻ hơi lãng mạn, chứ thực ra từ chính xác phải là khách sạn tình dục. Bạn cũng có thể thấy một số chúng ở trong hay gần những quận đèn đỏ, những hầu hết lại không nằm những khu vực đó. Rất nhiều trong số khách sạn này thường tập trung ở những chỗ giao cắt đường cao tốc hoặc ga tàu lớn bên ngoài thành phố và về phía ngoại ô. Lối vào khá là kín đáo, và lối ra thì tách biệt lối vào (để tránh đụng độ người quen). Về cơ bản, bạn có thể thuê một phòng theo đêm (được gọi là « Stay" hay 宿泊 shukuhaku trên bảng giá, thường là ¥6.000-10.000), thuê vài tiếng đồng hồ ("Rest" hay 休憩 kyūkei, around ¥3000), hoặc ngoài giờ (không phải giờ phục vụ), thường là vào buổi chiều các ngày trong tuần. Hãy cẩn thận với phí dịch vụ, phí tính thêm theo giờ vào giờ cao điểm và tiền thuế. Những thứ này có thể đẩy giá trên hóa đơn của bạn lên đến 25%. Một số khách sạn sẽ chấp nhận khách đi lẻ, nhưng hầu hết sẽ không cho phép những cặp đôi có cùng giới tính hoặc những vị khách nhìn quá trẻ.
Những khách sạn này nói chung là sạch sẽ, an toàn và rất kín đáo. Một số chủ đề căn phòng hay ho là đại dương, thể thao hay Hello Kitty. Là khách du lịch chứ không phải là khách hàng thông thường nên bạn không thể check-in, bỏ túi đồ lại rồi đi khám phá được. Một khi bạn đã rời đi, tức là rời đi luôn, vì thế những khách sạn này sẽ không tiện bằng những khách sạn chính thống. Giá « Stay » cũng thường bắt đầu được tính sau 10h tối, và ở lại quá giờ có thể bị tính thêm mức phí « Rest » rất đắt. Nhiều phòng có các loại đồ ăn và uống đơn giản trong tủ lạnh, và thường có giá hơi cao. Trước khi bước vào khách sạn tình yêu, tốt nhất là mang theo đồ ăn và uống theo người. Trong phòng thường có những tiện nghi như tắm nước ngầm, thiết kế phòng hoang dã, trang phục hóa trang, máy hát karaoke, giường rung, máy bán sex toy và đôi khi cả máy điện tử nữa. Thường thì sẽ có tất cả những đồ dùng vệ sinh trong phòng tắm (kể cả bao cao su). Đôi khi trong phòng có một quyển sách được dùng làm nhật kí để mọi người ghi lại những câu chuyện hay những cuộc phiêu lưu của mình cho hậu thế. Những khách sạn tình yêu nổi tiếng ở các thành phố có thể được đặt chỗ hết vào cuối tuần.

Tại sao khách sạn tình yêu lại có ở mọi nơi? Hãy nghĩ đến sự khan hiếm nhà ở lan tràn trong những năm sau chiến tranh ở Nhật, và cách mà người dân vẫn sống cùng với đại gia đình của mình. Nếu bạn 28 tuổi và vẫn sống với gia đình, bạn có thực sự muốn dẫn người yêu mình về nhà không ? Nếu bạn là một cặp vợ chồng sống trong một căn hộ 40m2 với hai đứa con đã đi học, bạn có thực sự muốn làm chuyện ấy ở nhà không? Vì vậy mới có khách sạn tình yêu. Có thể chúng không tốt, nhưng chủ yếu là chúng rất thực tế và đáp ứng được nhu cầu xã hội.

Một từ để cảnh báo thôi : Càng ngày càng có nhiều máy camera ẩn được giấu tại những khu vực công cộng hay riêng tư, bao gồm cả khách sạn tình yêu, có thể do những người khách hay thỉnh thoảng thậm chí quản lý khách sạn đặt. Những đoạn video từ những tousatsu (camera ẩn) này có bán phổ biến tại các cửa hàng video người lớn, mặc dù nhiều video khác thực sự chỉ là được diễn mà thôi.

Khách sạn kinh doanh

Chúng thường có giá khoảng ¥10.000 mỗi tối và có lợi thế là tọa lạc ở những vị trí thuận tiện (thường gần ga tàu lớn), nhưng phòng ốc thì thường chật hẹp đến khó tin. Điểm cộng là bạn sẽ có một phòng tắm (bé tẹo) bên cạnh và thường sẽ có Internet miễn phí. Một số chuỗi khách sạn kinh doanh giá rẻ phổ biến là Tokyu Inn, nổi tiếng về phòng ốc rộng rãi, và Toyoko Inn. Toyoko Inn có thẻ câu lạc bộ giá ¥1.500 và có thể trả bằng thẻ đó cho một đêm Chủ nhật.

Những khách sạn kinh doanh địa phương không được quảng bá và xa ga tàu hơn có thể rẻ hơn rất nhiều (từ ¥5.000/ phòng đôi/ đêm) và có thể được tìm thấy trong danh bạ điện thoại (ghi kèm luôn cả giá), nhưng bạn sẽ cần một người nói được tiếng Nhật giúp đỡ, hoặc tốt hơn là đặt chỗ trực tuyến. Khi đi hai người trở lên, giá có thể tương đương với những phòng trọ nếu các bạn ở chung phòng đôi. Chú ý là khi check-in thường sẽ phải thanh toán toàn bộ luôn, và giờ check-out khá sớm (10h sáng) và không được thương lượng giá cả trừ khi bạn muốn trả giá cao hơn. Ở mức độ thấp kém nhất là những khách sạn giá rẻ và bẩn thỉu tại những quận của người lao động ở các thành phố lớn như Kamagasaki ở Osaki hay Senju ở Tokyo. Giá ở những nơi này thường từ ¥1.500 trở lên cho một phòng nhỏ rộng ba chiếu và đúng là chỉ có đủ chỗ để nằm ngủ. Tường và nệm cũng có thể rất mỏng.

Nhà trọ

Ryokan

Ryokan (旅館) là kiểu nhà trọ truyền thống Nhật Bản và ở đây có thể là trải nghiệm tuyệt với đối với nhiều người khi tới Nhật. Có hai loại : kiểu nhà trọ nhỏ truyền thống xây bằng gỗ, có hiên dài và vườn, và kiểu nhà nhiều tầng hiện đại giống như khách sạn hạng sang với những nhà tắm công cộng sang trọng.
Do yêu cầu phải có hiểu biết về những tục lệ và thói quen Nhật khi ở những nhà trọ như thế này nên rất nhiều nhà trọ sẽ do dự khi nhận khách không phải là người Nhật (nhất là những ai không nói được tiếng Nhật), nhưng cũng có một vài nơi dành riêng cho nhóm đối tượng này. Một đêm ở ryokan cho một người với hai bữa ăn có giá từ khoảng ¥8000 trở lên và đến cao ngất. Giá ¥50.000 một đêm một người thì không có gì lạ đối với những nhà trọ sang trọng như ở Kagaya Wakura Onsen nổi tiếng gần Kanazawa.

Ryokan thường hoạt động theo một giờ giấc khá nghiêm ngặt và bạn phải đến trước 5h chiều. Khi bước vào, cởi giầy ra và đi dép trong nhà vào. Sau khi nhận phòng bạn sẽ được dẫn vào phòng mình, căn phòng được trang trí đơn giản nhưng rất thanh lịch và được trải chiếu tatami. Phải nhớ bỏ dép trước khi bước lên chiếu tatami.

Trước bữa ăn tối bạn nên đi tắm – xem phần Tắm để biết thêm. Bạn sẽ mặc bộ choàng tắm yukata vào trước khi tắm và nó rất dễ mặc thôi : chỉ cần đặt ve áo bên trái lên trên ve áo bên phải để đóng lại. (Để ve áo bên phải lên trên ve áo bên trái là sai cách, vì người ta chỉ đóng yukata như vậy trong mai táng). Nếu yukata không đủ rộng, chỉ cần yêu cầu người phục vụ hoặc lễ tân 'tokudai' (特大), áo ngoại cỡ. Nhiều ryokan cũng có cả những yukata phân biệt theo màu sắc tùy thuộc giới tính của bạn , ví dụ màu hồng nhạt dành cho nữ và xanh da trời cho nam.

Sau khi tắm xong, bữa tối sẽ được phục vụ trong phòng bạn. Ở hầu hết các ryokan, bữa tối được chuẩn bị một cách công phu và được nấu từ những nguyên liệu theo mùa được chọn lựa cẩn thận ; nếu không biết cách ăn thì phải hỏi người phục vụ. Thức ăn ở những ryokan tốt là một phần trải nghiệm đáng giá (và cả hóa đơn cũng đáng giá nữa), và là một cách tuyệt vời để thưởng thức ẩm thực Nhật thượng hạng.

Sau khi ăn xong, bạn có thể thoải mái đi chơi phố ; ở những nơi có suối nước nóng thì thật hoàn hảo nếu ra ngoài mà chỉ mặc bộ yukata cùng chiếc guốc geta, mặc dù người nước ngoài làm vậy thì sẽ thu hút chú ý nhiều hơn cả bình thường. (Mẹo : nhớ mặc đồ lót bên trong). Nhiều ryokan có giờ giới nghiêm, vì thế phải đảm bảo là bạn về đúng giờ.

Khi quay về bạn sẽ thấy đệm futon đã được trải ra trên chiếu tatami (một chiếc futon Nhật thật sự chỉ là một chiếc đệm, không phải là một chiếc giường phẳng và thấp vẫn được bán ở phương Tây) . Mặc dù hơi cứng hơn giường kiểu châu Âu, hầu hết mọi người đều thấy ngủ trên một chiếc futon cực kì thoải mái. Gối thì sẽ rất cứng, được nhồi vỏ hạt kiều mạch.

Bữa sáng thường được phục vụ chung trong một phòng ăn vào một giờ cố định, tuy nhiên những nơi cao cấp sẽ phục vụ riêng cho bạn trong phòng sau khi phục vụ phòng đã dọn giường. Bữa sáng luôn luôn theo kiểu Nhật, tức là có cơm, súp miso và cá lạnh, nhưng nhân viên sẽ đồng ý làm thêm trứng nếu được yêu cầu.
Những ryokan cao cấp là một trong số ít nơi ở Nhật nhận tiền tip, nhưng cách thức thì rất khác cách thông thường : khoảng ¥3000 được để trong một chiếc phong bì và đưa cho người phục vụ dẫn bạn lên phòng vào ngày đầu tiên, chứ không phải ngày cuối cùng. Mặc dù tiền tip không được đòi hỏi (và bạn vẫn sẽ được phục vụ tốt nếu không tip), món tiền này giống như một lời cảm ơn và lời xin lỗi của bạn về những phiền phức khi có những yêu cầu đặc biệt (ví dụ như dị ứng thức ăn) hoặc do bạn không nói được Tiếng Nhật.
Lời cảnh báo cuối cùng : một số nơi có chữ « ryokan » không phải là loại cao cấp mà chỉ là một minshuku trá hình (xem bên dưới). Giá cả sẽ cho bạn biết nhà nghỉ đó thuộc dạng nào.

Minshuku

Minshuku (民宿) là một kiểu ryokan giá rẻ : toàn bộ trải nghiệm sẽ hầu như giống nhau nhưng thức ăn thì đơn giản hơn, bữa ăn được phục vụ chung , phòng tắm chung và khách phải tự trải futon (nhưng có ngoại lệ đối với người nước ngoài). Vì vậy giá minshuku thấp hơn, trong khoảng ¥5000 với hai bữa ăn (一泊二食 ippaku-nishoku). Rẻ hơn nữa thì có thể ở không bao gồm ăn (素泊まり sudomari) với giá có thể chỉ là ¥3000.

Minshuku thường được thấy ở vùng nông thôn hơn, hầu như mọi xóm làng hay hòn đảo nào dù nhỏ bé hay xa xôi đến đâu cũng có có một cái. Khó nhất là tìm ra được chúng, vì chúng ít khi được quảng cáo hay thấy trên những máy tìm kiếm trực tuyến, vì thế tốt nhất hãy hỏi văn phòng du lịch địa phương.

Kokuminshukusha

Kokuminshukusha (国民宿舎), một cái tên dài ngoằng dịch ra có nghĩa là « nơi ở của mọi người », là một dạng nhà khách của chính phủ. Chúng chủ yếu phục vụ những kì nghỉ được trợ giá cho những công chức chính phủ ở những thắng cảnh xa xôi, nhưng chúng cũng rất sẵn lòng nhận khách ngoài. Cả cơ sở vật chất và giá cả đều tương đương với ryokan hơn là minshuku ; tuy nhiên tất cả đều rất rộng và tách biệt. Những nhà khách lớn cần phải được đặt chỗ trước vào mùa cao điểm, đôi khi phải đặt trước đến gần một năm cho dịp Năm Mới và các dịp tương tự.

Shukubō

Shukubō (宿坊) là chỗ ở dành cho người hành hương, thường (nhưng không phải lúc nào cũng vậy) nằm trong một ngôi chùa hoặc miếu Shinto. Trải nghiệm hầu hết cũng lại giống như ở ryokan, nhưng thức ăn là thức ăn chay và bạn có thể có cơ hội được tham gia những hoạt động của nhà chùa. Một số chùa Zen còn có cả những lớp hay khóa học thiền. Shukubo có thể không sẵn lòng nhận khách nước ngoài, nhưng vẫn có thể được tại trung tâm chính của Đạo Phật trên núi Koya gần Osaka.

Hostel và cắm trại

Youth hostel

Youth hostels (ユースホステル yūsu hosuteru thường được gọi là yūsu hoặc gọi tắt là “YH”) là một lựa chọn giá rẻ nữa ở Nhật. Hostel có thể được thấy ở trên toàn nước Nhật, vì thế chúng khá phổ biến đối với dân du lịch giá rẻ, đặc biệt là sinh viên. Hostel thường có giá từ ¥2000 đến ¥4000. Nó có thể thành đắt nếu bạn chọn thêm bữa tối và bữa sáng và không phải là một thành viên HI, trong trường hợp đó thì giá cho một đêm có thể hơn ¥5000. Đối với thành viên HI thì chỉ nghỉ ngơi bình thường có thể chỉ tốn ¥1500 tùy thuộc vào địa điểm hay mùa. Ở đâu cũng vậy, có một số hostel là những nhà xây dựng xi măng kiên cố giống như được cải tạo từ một ngôi trường, nhưng cũng có những hostel là nhưng ngôi nhà thôn dã tuyệt vời nằm trong những vùng cảnh đẹp. Thậm chí còn có một số chùa cũng mở hostel. Hãy tìm hiểu trước khi chọn đi đâu, và trang Japan Youth Hostel là một nơi rất tốt để bắt đầu. Nhiều hostel có một số yêu cầu giới nghiêm và là nhà ở tập thể, một số khác thì phân nam nữ.

Cắm trại

Cắm trại là cách ngủ qua đêm rẻ nhất ở Nhật. Có một hệ thống điểm cắm trại rất lớn trên cả nước , và hiển nhiên hầu hết đều xa các thành phố lớn. Giao thông đi tới đó có thể là một vấn đề, vì có rất ít xe bus. Giá cả có thể thay đổi từ mức giá thông thường (¥500) đến những căn nhà gỗ rộng có giá cao hơn cả phòng khách sạn (¥13000 hoặc hơn).

Cắm trại hoang dã là phạm pháp ở hầu hết các nơi tại Nhật, nhưng bạn cũng có thể thử xin phép, hoặc chỉ đơn giản là căng lều lên vào lúc tối muộn và rời đi thật sớm. Nhiều công viên thành phố lớn thực ra có một số lượng rất lớn những chiếc lều vải xanh của những người vô gia cư.

Những khu cắm trại ở Nhật được gọi là kyanpu-jo (キャンプ場), còn những khu vực dành cho xe ô tô được gọi là ōto-kyanpu-jo. Những khu vực dành cho xe ô tô thì đắt hơn rất nhiều so với những khu cắm trại (tầm ¥5000) và những người đi du lịch bộ thường tránh những nơi này, trừ khi họ không còn lựa chọn nào khác. Những khu cắm trại thường nằm gần suối nước nóng nên khá là thuận tiện.
Hiệp hội cắm trại quốc gia Nhật Bản (National Camping Association of Japan) đang hỗ trợ điều hành trang campjo.com, thông tin chỉ bằng Tiếng Nhật về hầu như tất cả các khu cắm trại tại Nhật. Trang web JNTO có một danh sách khá dài (dạng PDF) về những nơi có thể cắm trại viết bằng Tiếng Anh, và các văn phòng du lịch địa phương cũng có rất nhiều thông tin về vấn đề này.

Nojuku

Đối với dân du lịch giá rẻ thực sự muốn tiết kiệm ở Nhật thì có một lựa chọn đó là nojuku (野宿). Đây là từ tiếng Nhật có nghĩa là « ngủ ngoài trời », và tuy nó khá là kì cục đối với người phương Tây nhưng rất nhiều người Nhật Bản làm như vậy khi đi du lịch. Nhờ tỉ lệ tội phạm thấp và khí hậu khá ổn định, nojuku là một lựa chọn rất khả thi nếu bạn đi du lịch theo nhóm hoặc cảm thấy tự tin có thể ngủ một mình. Những nơi nojuku phổ biến là ga tàu, michi no eki (trạm dịch vụ đường xá) hoặc nói chung là bất cứ đâu có mái che và toilet công cộng gần đó.

Những ai lo lắng về việc tắm rửa sẽ rất vui mừng khi biết rằng Nhật Bản may mắn có những cơ sở vật chất công cộng rẻ và hầu như ở mọi nơi, đáng kể nhất là các suối nước nóng onsen. Ngay cả khi bạn không tìm được onsen thì sento (phòng tắm công cộng) hoặc sauna cũng là một lựa chọn.

Hãy nhớ rằng nojuku chỉ thực sự khả dĩ vào những tháng hè, nhưng ở những đảo phía Bắc Hokkaido, ngay cả vào mùa hè thì nhiệt độ cũng có thể xuống thấp vào ban đêm. Ngoài ra, ở Okinawa cũng có nhiều nơi để nojuku ở hơn (mặc dù cơ sở vật chất công cộng ở những đảo nhỏ khá thiếu thốn).
Nojuku không thực sự được khuyến khích đối với những người du lịch lần đầu tiên đến Nhật, nhưng với những người đã có kinh nghiệm thì đó có thể là một cách tuyệt vời để đắm mình vào văn hóa nơi đây, gặp gỡ những dân du lịch nojuku khác, và là cách du lịch rẻ nhất nếu đi kèm với cả hitchhiking.

Ở lâu dài

Nhà gaijin

Nếu bạn định ở một thời gian dài, khoảng một tháng hay lâu hơn, bạn có thể giảm thiểu chi phí rất nhiều nếu ở trong một nhà gaijin. Kiểu nhà này đặc biệt phục vụ cho người nước ngoài và cung cấp những đồ nội thất tối thiểu, thường là những căn hộ tập thể với mức giá hợp lý, và không cần trả những khoản đặt cọc hay hoa hồng lớn (thường bằng cả 8 tháng tiền nhà) trước khi chuyển đến. Gần như chắc chắn là nó sẽ rẻ hơn việc ở một khách sạn trong vòng một tháng, và đối với những ai mới tới Nhật lần đầu thì đây cũng là cách tuyệt vời để giao lưu và làm quen với một vài dân địa phương. Điểm trừ là cơ sở vật chất thường phải dùng chung và việc ở tạm thời đồng nghĩa với việc bảo trì kém và hàng xóm mưu mẹo.

Những nhà gaijin tập trung ở Tokyo, nhưng bất cứ thành phố lớn nào khác cũng có một ít. Chúng có thể là bất cứ cái gì từ những khu căn hộ chật chội xấu xí với những người thuê nhà theo tuần, đến những căn nhà riêng tư được kinh doanh kiểu gia đình, vì thế cố gắng xem qua nơi ở trước khi quyết định chuyển đến. Hai trong số những trung tâm cho thuê nhà gaijin lớn nhất ở Tokyo là Sakura House và Oak House, những cũng có đầy rẫy những danh sách và quảng cáo Gaijin House Japan khắp thành phố.

Căn hộ

Từ trước đến nay, thuê căn hộ ở Nhật là một việc cực kì rắc rối và đắt đỏ, bao gồm việc nhờ một dân bản xứ Nhật làm người bảo hộ cho bạn (hiểu đơn giản là khi bạn đảo tung căn hộ lên và bỏ trốn thì họ sẽ là người bị kẹt với tờ hóa đơn) và trả trước tiền thuê nhà một năm hoặc hơn một năm. Vì thế đây về cơ bản là cách không thể được đối với những ai vừa không quen thuộc với văn hóa Nhật lại chưa từng sống và làm việc ở đây ít nhất là vài năm.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, weekly mansion (kiểu căn hộ ở ngắn hạn) trở nên phổ biến đối với người dân (đặc biệt là đối với những doanh nhân đang đi công tác dài hạn hoặc những người độc thân trẻ) và cả khách du lịch cũng tiếp cận được. Phần lớn là phòng cho 1 hoặc 2 người, mặc dù đôi khi cũng có phòng rộng hơn cho 3 hay 4 người. Phí căn hộ thường khoảng ¥5000 một người, và khoảng ¥6000-7000 cho phòng hai người/ ngày. Hầu hết các trung tâm môi giới căn hộ kiểu này đều có đưa ra những căn hộ có cả vòi sen, toilet và bồn tắm. Thường chúng sẽ có cả điều hòa nhiệt độ, lò vi sóng và các dụng cụ nấu ăn. Có thể đặt chỗ trước trên trang web bằng Tiếng Anh, và họ có rất nhiều ưu đãi trên website. WMT có hơn 50 tòa nhà căn hộ ở Tokyo và Yokohama và Osaka. Với một số căn hộ đôi khi có thể phải đặt cọc trước. Tiền đặt cọc này có thể được bỏ qua nếu bạn đã ở vài lần mà không gây ra vấn đề gì. Những căn hộ này luôn được giữ gìn sạch sẽ, thường có nhiều không gian và tiện lợi hơn ở khách sạn, và giá thì lại ở trong khoảng giá của Youth hostel.

Phương án cuối cùng

Ngay cả ở Tokyo, tàu cũng ngừng hoạt động hoàn toàn vào khoảng 1h sáng, vì thế nếu bạn ra ngoài sau giờ đó và không muốn trả tiền taxi hay trả tiền khách sạn capsule, có một vài lựa chọn để giết thời gian cho đến khi chuyến tàu sáng đầu tiên chạy. Nếu bạn muốn nhanh chóng tìm ra những chỗ này thì người trực ga tàu có thể chỉ lối chính xác cho bạn. Rất tiện lợi là rất nhiều những địa điểm này lại thường tập trung quanh ga tàu, và chúng cũng đã quen với việc tiếp đón những khách hàng lỡ chuyến tàu cuối về nhà.

Quán cà phê Internet và manga

Ở những thành phố lớn, đặc biệt là xung quanh các ga tàu chính, bạn có thể tìm thấy các quán cà phê Internet hoặc manga. Phí thành viên thường khoảng ¥300 một lần. Ở đây bạn cũng có thể xem TV, chơi điện tử, đọc truyện tranh và tận hưởng quầy đồ uống miễn phí. Giá cả khác nhau nhưng thường trong khoảng ¥400 một giờ. Họ thường có cả loại vé đêm đặc biệt dành cho khoảng thời gian không có tàu hoạt động (khoảng từ 12h đêm đến 5h sáng với giá ¥1500). Khách hàng có thể lựa chọn giữa phòng có trang bị máy tính hay phòng có trang bị TV, và một số khác còn có những tiện nghi như ghế mát xa, chiếu để ngủ hay cả phòng tắm.

Đây thực sự không phải là một lựa chọn thoải mái, nhưng lại rất phù hợp nếu bạn muốn xem lại lịch tàu ngày hôm sau, tải ảnh từ máy ảnh số, viết thư về nhà và nghỉ ngơi một chút. Thường thì xung quanh bạn sẽ là những người dân địa phương đang ngáy ngủ, những người cũng vừa lỡ chuyến tàu cuối về nhà.

Quán karaoke

Đây là một lựa chọn khẩn cấp nếu bạn không thể tìm được nơi nào để đi và đang lạnh cóng ở bên ngoài. Những quán karaoke phục vụ phòng giải trí đến tận 5h sáng với giá ¥1500-2500. Lựa chọn này chỉ áp dụng được với nhóm 3 người trở lên.

Phòng tắm công cộng

Một số onsen hoặc sento mở cửa suốt đêm. Những chỗ này thường được gọi là super sento. Thường sẽ có một khu vực thư giãn có chiếu tatami, TV và máy bán hàng, v..v.. Đôi khi họ còn có những phòng tắm nhiều tầng và khu trò chơi nữa. Thông thường với một mức phí hợp lý (ngoài phí tắm ra), bạn có thể được phép ngủ qua đêm trên những chiếc chiếu tatami hoặc trong một căn phòng có ghế dựa rộng rãi.

Ngoài trời

Vào những tháng ấm áp, việc mọi người ngủ hay đánh một giấc bên vệ đường bên ngoài những ga tàu lớn là một cảnh tượng khá phổ biến. Rất nhiều người trong số đó vừa lỡ chuyến tàu cuối và thích dành 3 hay 4 giờ đợi tàu trên đường nhựa hơn là tiêu mất 3 đến 4 ngàn yên để ngủ ở khách sạn hay nhà tắm công cộng.
Mặc dù điều này rõ ràng là cách kém thoải mái nhất để ngủ qua đêm, nó vẫn rất phổ biến với những sinh viên đại học (những người không có tiền), và hoàn toàn được cảnh sát và nhân viên ga tàu thông cảm; ngay cả những kẻ say rượu nằm ngủ ngay cạnh bãi nôn mửa của họ cũng sẽ không bị làm phiền khi đang trong giấc ngủ say sưa.

Trên tàu

Tương tự, không có gì phải sợ nếu bạn lỡ ngủ gật trên tàu sau một đêm tiệc dài. So với ngủ bên ngoài thì ngủ trên tàu giống như là nhà gaijin vậy. Không có thời gian giới hạn bao lâu cho việc bạn ngủ trên tàu, miễn là bạn có vé; rất nhiều người sống lâu ở đây thích được đi 2-3 vòng trên tàu rồi mới thức dậy và xuống ở bến đầu tiên với chiếc vé mua từ 3 tiếng trước. Nếu tàu không quá đông, bạn có thể sẽ được thoải mái duỗi người trên ghế, nhưng nhớ là phải cởi giầy ra.
Tất nhiên, bạn phải tuân thủ theo yêu cầu của nhân viên tàu. Những người này sẽ nhẹ nhàng đánh thức mọi người ở ga cuối, nhất là khi tàu không chạy ngược lại nữa. Đôi khi, nhà ga có khi lại ở xa thành phố đến 2h đồng hồ.

Học

Rất nhiều chương trình trao đổi thanh niên mang những bạn trẻ nước ngoài đến với Nhật, và đất nước này cũng có một số lượng rất lớn chương trình trao đổi đại học. Để có một chiếc visa sinh viên, bạn cần có một triệu yên, hoặc một khoản trợ cấp tài chính tương đương để lo chi phí sinh hoạt. Với visa sinh viên, bạn có thể xin được giấy phép từ phòng nhập cảnh cho phép được làm việc lên tớn 20 giờ một tuần. Liên hệ với đại sứ quán Nhật tại nơi bạn ở hoặc phòng ban phụ trách việc trao đổi đại học để có thêm thông tin về thủ tục.

Cách rẻ nhất để ở Nhật trong một thời gian tương đối dài là học ở một trường hoặc đại học ở địa phương với một khoản học bổng lớn Monbusho (Bộ Giáo dục). Nhiều trường đại học Nhật có cả những khóa học được dạy bằng Tiếng Anh, một số trường nước ngoài cũng có những chương trình giảng day độc lập ở Nhật, lớn nhất là trường đa khoa Temple University ở Tokyo.

Những trường đại học hàng đầu của Nhật cũng rất có tiếng trên thế giới, mặc dù điểm trừ là chương trình Cử nhân hầu như lúc nào cũng chỉ được dạy bằng Tiếng Nhật. Tuy nhiên, rất nhiều trường có thỏa thuận trao đổi với các trường đại học nước ngoài, và bạn có thể nộp đơn để đi trao đổi trong một học kì hoặc một năm. Các trường thuộc những trường nối tiếng là Đại học Tokyo (University of Tokyo), Đại học Waseda (Waseda University) và Đại học Keio (Keio University) ở Tokyo, và Đại học Kyoto (Kyoto University) ở Kyoto.

Làm việc

Khu vực Tokyo thường cung cấp một lượng lớn công việc cho người nước ngoài, bao gồm những vị trí như luật sư, kế toán, kĩ sư và các chuyên môn khách. Để làm việc ở Nhật, người nước ngoài phải nhận được một lời đề nghị từ một người bảo hộ ở Nhật, sau đó nộp đơn xin visa làm việc tại đại sứ quán hoặc tòa lãnh sự ở nước ngoài. Visa làm việc có giá trị trong khoảng 1-3 năm, và có thể được dùng để bảo vệ người lao động trước chủ lao động trong khuôn khổ những việc được phép làm nêu trong visa (chủ lao động không bao gồm người bảo hộ). Nếu ở quá thời hạn trên visa sẽ phải chịu hình phạt rất nặng. Vợ, chồng của người Nhật cũng có thể lấy visa diện kết hôn (spousal visa) và visa không có giới hạn về việc làm.

Chương trình Working Holiday mở rộng cửa với các công dân trẻ (từ 18 đến 30) đến từ Australia, New Zealand, Canada, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Ireland và Vương quốc Anh; những người này có thể nộp đơn xin visa working holiday mà không cần phải có giấy đề nghị làm việc.

Hình thức làm việc phổ biến nhất đối với người nước ngoài là dạy Tiếng Anh, đặc biệt là tại những trường học giao tiếp Tiếng Anh ngoài giờ được gọi là eikaiwa (英会話). Lương được trả khá hậu hĩnh đối với giới trẻ, nhưng nếu so sánh với giáo viên có bằng cấp làm việc ở các nước phương Tây thì lại khá là thấp. Điều kiện làm việc có thể sẽ khá khắn khe so với phương Tây, và một số công ty có tai tiếng rất xấu. Với những vị trí tốt thì cần phần có bằng cử nhân hoặc chứng nhận ESL. Đối với những trường Tiếng Anh lớn thì hầu hết giáo viên sẽ được phỏng vấn tại nước của họ trước khi đến làm việc tại Nhật. Học Tiếng Anh không còn thời thượng như trước kia nữa và những năm bùng nổ việc học Tiếng Anh đã qua lâu rồi. Giọng Bắc Mỹ có xu hướng được lựa chọn hơn là các giọng khác. Gần đây đang có sự chú trọng vào giáo dục trẻ em. Bên cạnh Tiếng Anh, các tiếng nước ngoài khác phổ biến bao gồm Tiếng Bồ Đào Nha, Tiếng Pháp, Tiếng Hàn, Tiếng Trung Quốc phổ thông và Quảng Đông.

Chương trình JET (Japan Exchange and Teaching) tạo điều kiện cho những sinh viên trẻ đã tốt nghiệp đại học có cơ hội được dạy tại Nhật. Chương trình được quản lý bởi chính phủ nhưng người phụ trách bạn thường là Sở Giáo dục ở địa phương, họ sẽ điều bạn đến một hay vài trường công, thường là ở những vùng quê xa xôi. Bạn không cần phải có bằng cấp dạy học hay biết tiếng Nhật và được cấp vé máy bay. Lương thì tốt hơn một chút so với các trường ngôn ngữ và không như các trường đó, nếu bạn có vấn đề nghiêm trọng với người phụ trách, bạn có thể kêu gọi sự giúp đỡ từ những người trong chương trình JET. Chương trình JET cũng có một vài vị trí nhỏ về quan hệ quốc tế hoặc điều phối viên thể thao, nhưng những vị trí này yêu cầu khả năng Tiếng Nhật.

Nghiên cứu sinh người nước ngoài có thể tìm được công việc dạy Tiếng Anh (hoặc dạy các môn học khác) tại các trường đại học Nhật với mức lương và điều kiện làm việc tốt hơn so với các trường eikaiwa.

Có một vài phụ nữ trẻ chọn làm việc trong ngành tiếp viên, nơi họ mua vui cho đàn ông Nhật khi nhậu nhẹt ở những quán rượu nhỏ gọi là sunakku (スナック) và được trả tiền theo giờ. Mặc dù lương có thể tốt nhưng visa để làm công việc này khó xin nếu không nói là không thể xin được và hầu hết đều là việc bất hợp pháp. Đặc điểm công việc mang nhiều rủi ro, ví dụ như tương lai nghề nghiệp không tốt, nghiện rượu, hút thuốc và những vấn đề tiềm tàng từ phía khách hàng như sờ soạng hoặc buông lời cợt nhả , và ngay cả quấy rối tình dục và hơn cả thế, ví dụ như trường hợp tiếp viên Lucie Blackman bị bắt cóc và giết hại vào năm 2000.

Giữ gìn sức khỏe

Nhật Bản là một đất nước bị ám ảnh bởi sự sạch sẽ và có rất ít nguy cơ về sức khỏe. Nước máy được uống ở khắp nơi và tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm rất cao. Không hề có lấy một căn bệnh truyền nhiễm đáng kể nào, và căn bệnh viên não Nhật Bản đã gần như bị xóa bỏ.

Một số toilet công cộng ở Nhật không có giấy vệ sinh, tuy nhiên thường có máy bán hàng gần đó có bán với giá khá rẻ. Làm theo những gì người Nhật làm và dùng những túi khăn giấy được những nhà quảng cáo phát miễn phí ở các ga tàu lớn.
Mặc dù là điều bình thường đối với những ai sống ở các khu vực đô thị nhưng rất nhiều người mới đến Tokyo hoặc Osaka vẫn không quen với cuộc sống ở một trung tâm đông đúc, nơi hầu như thứ gì họ chạm vào cũng đã bị chạm vào bởi hàng trăm người trước đó trong cùng một ngày. Những người mới đến nếu không cẩn thận sẽ dễ bị nhiễm những bệnh thông thường như cảm cúm. Cũng như các đô thị khác, khi ở một thành phố lớn của Nhật như Tokyo or Osaka, hãy rửa tay bằng xà bông và nước thường xuyên nhất có thể, nhất là sau khi đi trên các phương tiện công cộng và trước bữa ăn.

Hãy chắc là mang theo một chiếc ô nhỏ trong những ngày mưa thường xuyên. Đừng phụ thuộc quá nhiều vào dự báo thời tiết, nhất là dự báo từ một hai ngày trước. Và nếu có quên ô thì bạn cũng có thể đến cửa hàng tiện ích gần nhất để mua một cái với giá ¥500.

Nhật Bản cũng có những nơi không sạch sẽ. Ở các thành phố, do quy mô giao thông rộng lớn, đường phố và lề đường cũng khá bẩn. Với điều kiện bên ngoài như vậy, nỗi am ảnh về sự sạch sẽ và việc cởi giầy trước khi vào nhà hoàn toàn có thể hiểu được.

Nếu bạn bị cảm hay nhiễm các bệnh khác, hãy mua khẩu trang. Bạn sẽ nhận ra rằng mọi người thường xuyên đeo khẩu trang trên tàu hoặc khi làm việc. Khẩu trang sẽ ngăn những cái hắt hơi hay cơn ho của bạn tránh lây nhiễm sang người khác.
Hút thuốc lá thụ động là hiểm họa sức khỏe chính ở hầu hết các nhà hàng và khu vực công cộng Nhật Bản; bao gồm cả những cửa hàng ăn uống đa quốc gia cũng như những nhà hàng địa phương. Thường sẽ không có khu vực không hút thuốc và nếu có thì cũng có chất lượng thấp.

Cơ sở vật chất y tế ở Nhật gần như ngang bằng với phương Tây, và những bệnh viện nổi tiếng thường được trang bị những công nghệ y tế tân tiến nhất. Tuy nhiên, hầu như không bác sĩ nào nói được Tiếng Anh. Tuy nhiên những bệnh viện lớn ở các thành phố lớn sẽ có thể có một vài bác sĩ nói được Tiếng Anh.

Du lịch an toàn

Nhật Bản có lẽ là một trong những đất nước an toàn nhất thế giới, với tỉ lệ tội phạm thấp hơn rất nhiều so với hầu hết các nước phương Tây.

Tội phạm và lừa đảo

Tội phạm đường phố cực kì hiếm, ngay cả vào lúc đêm muộn. Tất nhiên, ít tội phạm không có nghĩa là không có, không nên mất cảnh giác. Phụ nữ đi du lịch một mình nên tự chăm sóc bản thân như khi họ còn ở nhà và đừng bao giờ đi nhờ xe một mình.

Móc túi cũng thỉnh thoảng xảy ra, nhưng nếu bạn để ý cẩn thận ở những nơi đông người như trên tàu hay ở sân bay Narita thì sẽ chẳng sao cả. Phụ nữ trên những chuyến tàu vào giờ cao điểm nên cảnh giác với chikan (痴漢) - những kẻ sờ mó. Buổi tối có nhiều cuộc chè chén diễn ra và đôi khi những kẻ say rượu sẽ cực kì phiền phức, nhưng những vụ bạo lực liên quan đến rượu thì lại cực kì hiếm.
Những nhóm xã hội đen ngoài vòng pháp luật yakuza (ヤクザ) có lẽ đã mang tiếng xấu một cách oan uổng là những kẻ tội phạm biến thái và bạo lực do những gì miêu tả họ trên phim ảnh. Tuy nhiên, thực tế họ hầu như không bao giờ nhắm đến những người không liên quan đến tổ chức tội phạm của họ. Chỉ cần không gây rắc rối với họ, họ sẽ không động đến bạn.

Những quận đèn đỏ ở những thành phố lớn có thể nhốn nháo nhưng rất ít gây nguy hiểm đối với khách du lịch, nhưng một số quán rượu đường phố nhỏ hơn lại được biết đến vì áp mức giá vào cửa hoặc giá đồ uống cao cắt cổ. Trong một số trường hợp đặc biệt, khách du lịch phản ánh đã bị bỏ thuốc ở những nơi này và sau đó bị tính tiền lên đến ¥700.000 hay gần $7000 cho những đồ uống mà họ không nhớ là đã gọi (có thể kể đến những quận Roppongi và Kabuki-cho ở Tokyo). Không bao giờ nghe lời một người mới quen vào một nơi như thế này, như vậy sẽ tránh được rắc rối.

Chú ý là luật về chất gây nghiện ở Nhật nghiêm khắc hơn so với nhiều nước phương Tây. Người Nhật không phân biệt thuốc nặng hay nhẹ, vì thế chỉ cần sở hữu một lượng nhỏ thuốc nhẹ để dùng thôi cũng có thể đưa bạn vào tù vài năm. Đừng cho rằng chỉ cần có đơn thuốc kê ở nước của bạn mà bạn có thể mang thuốc phiện vào Nhật. Nếu bạn có thuốc gây nghiện trong đơn kê, hãy kiểm tra với Đại sứ quán Nhật trước khi đi để xem liệu thuốc bạn dùng có được phép ở Nhật không. Nếu thuốc đó là phạm pháp, có thể họ sẽ cho bạn thông tin liên quan đến loại thuốc mà bạn có thể mua để dùng ở Nhật thay cho loại thuốc bạn được kê đơn.
Bốt cảnh sát (交番 kōban) có thể được tìm thấy ở mọi góc đường. Cảnh sát nói chung rất sẵn lòng giúp đỡ (mặc dù rất ít trong số họ nói Tiếng Anh), vì vậy hãy hỏi nếu bạn bị lạc đường hay gặp rắc rối. Họ thường có bản đồ chi tiết về khu vực xung quanh miêu tả không chỉ hệ thống đánh số nhà khó hiểu mà còn có tên của những cơ quan hay tòa nhà công cộng hoặc các nơi khác để giúp bạn tìm được đường.

Ngoài ra, nếu bạn mang theo bảo hiểm du lịch, hãy báo lại những vụ trộm cắp hay những đồ vật bị mất tại kōban. Họ có mẫu đơn bằng Tiếng Anh và Tiếng Nhật, thường gọi là “Blue Form” – Đơn xanh. Khi bị mất đồ, kể cả tiền mặt, điền vào đơn này không hề vô ích chút nào, vì người Nhật thường xuyên đem những đồ bị mất đến kōban, ngay cả khi là chiếc ví đựng đầy tiền. Nếu tình cờ bạn thấy những vật bị bỏ quên như vậy thì hãy mang đến kōban. Nếu những vật này không có ai đến nhận trong vòng 6 tháng, thì nó sẽ thuộc về bạn. Nếu có người đến nhận nó, bạn có thể được hậu tạ 5-15%.

Nhật có hai số điện thoại khẩn cấp. Số khẩn cấp để gọi cảnh sát là 110 (百十番 hyakutoban). Để gọi xe cứu thương hoặc cứu hỏa, gọi 119. Ở Tokyo, cảnh sát có đường dây trợ giúp bằng Tiếng Anh (03-3501-0110), thường trực từ Thứ Hai đến Thứ Sáu từ 8h30 sáng đến 5h15 chiều trừ ngày lễ.

Mại dâm

Mại dâm là phạm pháp ở Nhật. Tuy nhiên, quản lý lại lỏng lẻo, và luật thì chỉ định nghĩa mại dâm là “tình dục đổi lấy tiền”. Nói cách khác, nếu bạn trả trả tiền cho những “dịch vụ’ khác và sau đó tiến tới quan hệ tình dục trên cơ sở “thỏa thuận cá nhân” thì luật sẽ không coi đó là mại dâm. Vì thế, Nhật Bản vẫn là một trong số những ngành công nghiệp tình dục sôi động nhất thế giới. Quận đèn đỏ nổi tiếng nhất là Kakukicho (歌舞伎町) ở quận Shinjuku của Tokyo, nơi có rất nhiều khách sạn tình yêu và quán gái gọi. Việc lây nhiễm HIV đang ngày càng nhiều ở Nhật trong những năm gần đây. Một số gái mại dâm từ chối phục vụ khách nước ngoài, ngay cả những người nói Tiếng Nhật thành thạo.

Phân biệt chủng tộc

Mặc dù những vụ tấn công bạo lực chống lại người nước ngoài ở Nhật hầu như không được nghe nói tới, nhưng cũng có những phân biệt đối với người nước ngoài trong công việc. Ngay cả những du khách phương Tây cũng bị từ chối không cho vào một số onsen và nhà hàng, nhất là ở khu vực nông thôn. Ngoài ra cũng có thể thấy một số căn hộ, nhà nghỉ, câu lạc bộ đêm và phòng tắm công cộng ở Nhật treo những biển hiệu để nói rằng người nước ngoài không được phép vào hoặc rằng người nước ngoài phải được đi kèm bởi một người Nhật. Tuy nhiên những nơi như vậy rất hiếm, và nhiều người Nhật lên tiếng rằng những luật cấm như vậy là do sự khác biệt về nhận thức xã hội (ví dụ, người nước ngoài không hiểu những qui tắc đúng cách trong phòng tắm) chứ không phải là phân biệt chủng tộc.
Ngân hàng thường miễn cưỡng và không muốn đưa tiền trước cho người nước ngoài, chủ yếu do những định kiến về sự không tin cậy. Nếu bạn cần thông qua một ngân hàng Nhật để rút tiền từ ngân hàng của mình thì khả năng nói tiếng Nhật thành thạo hoặc một người bạn Nhật bảo đảm cho bạn sẽ giúp bạn rất nhiều trong trường hợp này.

Động đất

Nhật Bản rất hay xảy ra động đất. Ngày 11 tháng 3 năm 2011, một trận động đất mạnh 9 độ richter đã xảy ra tại vùng biển quận Miyagi, gây ra một trận sóng thần lớn và tàn phá thành phố Sendai và các khu vực lân cận. Trận động đất (và dư chấn của nó) có thể được cảm nhận trên toàn nước Nhật, với số lượng người chết lên đến hơn 15.000 người, chủ yếu do sóng thần. Trận động đất trước đó xảy ra tại Kobe vào năm 1995 và làm bị chết 5000 người. Cứ vài ngày, ở một nơi nào đó trên nước Nhật Bản lại bị rung động bởi một trận động đất đủ lớn có thể cảm nhận được, nhưng hầu hết là vô hại. Mặc dù những thiết bị điện tử giờ đây cũng được đưa vào để phát hiện động đất (cả cường độ động đất và số giây cần thiết để cơn rung chấn đến được một điểm nhất định), bạn cũng nên biết một số nguyên tắc an toàn cơ bản:
• Không đặt vật nặng ở trên cao, đặc biệt là phía trên giường.
• Nếu bạn đang ở trong nhà và cảm thấy rung chấn, lời khuyên là bạn sẽ an toàn hơn nhiều nếu bạn ở yên trong nhà, vì những mái nhà hay vôi tường bên ngoài thường ẩn chứa những nguy cơ chết người.
• Mặc dù việc cực kì quan trọng là tắt hết các ngọn lửa trong nhà (bếp, nến,…) ngay lập tức, thì nếu bạn có thời gian hãy nhớ rằng hiểm họa trước mắt đến từ những vật dụng rơi vỡ và những nội thất đang chao lượn. Chú ý những gì ở phía trên đầu bạn và núp xuống phía dưới đồ đạc hay ngưỡng cửa nếu cần thiết.
• Nếu bạn đang ở trong nhà và cảm thấy rung lắc mạnh, cố gắng mở cửa ra vào hoặc cửa sổ ngay khi có thể và giữ cửa mở bằng những vật dụng như cái chặn cửa nếu nó bị kẹt. Một lần nữa, nhớ rằng nguy hiểm trực tiếp đến từ những vật dụng rơi vỡ và những đồ nội thất chao đảo.
• Nếu bạn đang ở bên ngoài thì hãy tránh xa khỏi những bức tường gạch, những tấm kính hay máy bán hàng, và cẩn thận với những vật dụng rơi vỡ, đường dây điện thoại, v..v.. Những mái nhà rơi ra từ những tòa nhà cũ kì là cực kì nguy hiểm, vì chúng có thể rơi xuống sau khi trận động đất đã qua rất lâu rồi.
• Nếu bạn đang ở gần biển và cảm nhận được một rung chấn vừa phải, hãy chú ý theo dõi những cảnh báo sóng thần (có cả bằng Tiếng Anh) trên kênh NHK TV (kênh 1) và Radio 2 (693 kHz). Hầu hết các chấn động và động đất nhỏ sẽ chỉ được cảnh bảo bằng một dòng thông báo nhỏ chạy phía trên màn hình bằng Tiếng Nhật, vì chúng không được coi là đáng để đưa tin. Nếu bạn ở gần biển và trải qua một trận động đất lớn, hãy di rời đến những vùng đất cao ngay lập tức và đừng cố đợi có cảnh báo.
• Biết chính xác chỗ để hộ chiếu, vé du lịch, giấy tờ, thẻ tín dụng và tiền của bạn và mang chúng theo người nếu ra khỏi tòa nhà vì có thể bạn sẽ không lấy chúng lại được nữa.
Mọi khu dân cư đều có một khu vực di tản, hầu hết là tại sân chơi chung. Nhiều trường học lắp đặt những chỗ trú tạm thời. Cả hai nơi này đều được ghi chú bằng Tiếng Anh. Nếu bạn đang đi với người khác, hãy lên kế hoạch gặp nhau ở đó và nên biết là điện thoại di động sẽ không hoạt động vào những lúc như vậy.

Khác

Núi lửa, mưa giông và bão là những vấn đề chính nếu bạn đang leo núi hay chèo thuyền, vì vậy hãy kiểm tra những thông tin mới nhất trước khi đi. Hãy theo sát với những đường mòn đã có sẵn ở các vùng núi lửa vì khí ga từ núi lửa có thể gây rắc rối. Bão thì hiếm khi gây nguy hiểm về tính mạng, nhưng chúng vẫn gây ảnh hưởng đến lịch trình của các chuyến bay, tàu thuyền, và nếu ở trên đất liền thì ngay cả tàu lửa hay xe bus.

Ở Okinawa có một loài rắn độc gọi là habu, mặc dù số lượng không nhiều. Bạn ít có nguy cơ bị cắn, nhưng nếu bị cắn thì hãy tìm trợ giúp y tế ngay lập tức để lấy thuốc giả độc. Nếu bạn đang leo núi ở Hokkaido và Honshu, hãy cẩn thận động tĩnh của những con gấu, đặc biệt là vào mùa thu. Mặc dù những vụ tấn công hiếm xảy ra nhưng ở những khu vực như bán đảo Shiretoko hãy gắn chuông lên ba lô để dọa cho chúng sợ.

Đặc biệt là ở vùng nông thôn phải chú ý loài ong bắp cày châu Á. Mỗi con dài khoảng 5cm và có thể đốt nhiều lần và rất đau. Mỗi năm, 20-40 người chết ở Nhật do bị ong bắp cày lớn đốt. Một con ong bắp cày đang bảo vệ tổ và nơi hút mật của bầy sẽ tạo ra tiếng kêu vo vẻ để đuổi kẻ xâm phạm; nếu bạn gặp một con thì hãy rút lui ngay. Nếu bạn bị đốt, tìm trợ giúp y tế ngay lập tức, vì để lâu chất độc có thể gây ra những thương tổn vĩnh viễn hoặc thậm chí gây chết người.

Thích nghi

Ăn mặc

Về quần áo hàng ngày dành cho khách du lịch, bạn đã bị rơi vào thế bất lợi rồi: không quan trọng bạn mặc thế nào, bạn vẫn sẽ rất nổi bật khi đứng cạnh những nhân viên công sở mặc áo vest và những học sinh mặc đồng phục. Và theo kịp được những mốt thời trang thay đổi xoành xoạch của Nhật thì thật là quá sức với một khách du lịch.

Điều đầu tiên quan trọng cần nhớ: đi đôi giầy mà bạn có thể cởi dễ dàng, vì bạn có thể sẽ phải cởi giầy vài lần một ngày. Những đôi giày thể thao là rất phù hợp; và chỉ nên buộc dây giầy thật lỏng để bạn có thể đi vào và cởi ra mà không cần dùng tay. Dép quai hậu và tông không phổ biến lắm ; thông thường bạn sẽ bắt gặp chúng ở dạng dép zōri, được làm từ cói, giống kiểu như tatami.

Quần sooc cũng không thông dụng, ngay cả trong mùa hè, và là phong cách của dân du lịch. Sẽ tốt hơn khi bạn mặc một chiếc quần jean thời trang và một chiếc áo sơ mi không đóng cúc khoác ngoài áo phông (tốt nhất là những áo có dòng chữ to hoặc hình ảnh trừu tượng). Mặc xong rồi thì đừng cố len lỏi trong thành phố khi trên vai đang khoác ba lô to đùng giống như dân người cắm trại quê mùa. Làm như vậy bạn sẽ cực kì nổi bật, ba lô của bạn sẽ chắn đường mọi người (và cả bạn nữa), và như thế thì đúng là chẳng tốt chút nào.

Cách ăn mặc của những cô gái Nhật có thể bị coi là khá khêu gợi đối với người phương Tây, ngay cả vào ban ngày. Kiểu ăn mặc này tất nhiên không hề được khuyến khích đối với phụ nữ nước ngoài nhưng cũng sẽ không gây khó chịu, vì vậy chỉ cần ăn mặc thật thoải mái là được rồi.

Trong kinh doanh, áo vét vẫn là chuẩn mực ở hầu hết các công ty. Hãy mặc áo vét vào buổi tối để uống rượu và giải trí.

Mọi người khỏa thân tắm ở những suối nước nóng, nhưng ở bãi biển hay bể bơi thì bạn vẫn cần phải có áo bơi. Đàn ông mặc quần bơi ngắn hoặc quần bơi lửng speedo thì không sao, nhưng những quần sooc rộng và dài sẽ gây chú ý. Nếu bạn định bơi trong bể, bạn sẽ được yêu cầu phải có cả mũ bơi nữa.

Tôn trọng

Phần lớn nếu không muốn nói là tất cả người Nhật đều rất thông cảm cho người nước ngoài (gaijin or gaikokujin), những người không thích nghi ngay được với văn hóa của họ. Thực ra, người Nhật thích khoe (với một niềm tin không thể chối cãi) rằng ngôn ngữ và văn hóa của họ thuộc hàng khó hiểu nhất trên thế giới, vì thế họ thường rất sẵn lòng giúp đỡ nếu bạn đang cố gắng để tìm hiểu nó. Tuy nhiên, người Nhật sẽ đánh giá cao nếu bạn làm theo ít nhất là một trong số những nguyên tắc dưới đây, rất nhiều trong số đó đã được tối giản thành những thông lệ xã hội nghiêm khắc và tránh làm phiền đến người khác (迷惑 meiwaku).

Việc nên làm

• Học một chút tiếng Nhật và cố gắng sử dụng nó. Họ sẽ khen bạn nếu bạn cố gắng, và không có lý do gì phải ngại ngùng. Họ nhận ra rằng Tiếng Nhật rất khó học đối với người nước ngoài và sẽ bỏ qua những sai lầm của bạn ; hơn nữa, họ sẽ yêu quí bạn hơn vì đã cố gắng.
• Cúi chào : đàn ông cúi chào với hai tay để dọc theo hai bên. Phụ nữ cúi chào với cả hai tay ở đằng trước. Tay của người phụ nữ sẽ trông như đang đặt trên vạt váy khi chào, chứ không phải trong tư thế cầu nguyện. Góc độ cúi chào chính xác phụ thuộc vào vị thế trong xã hội đối với người cần chào và phụ thuộc vào từng dịp. Những nguyên tắc bất thành văn rất phức tạp, nhưng đối với người nước ngoài, chỉ cần cúi chào là được. Trên thực tế, rất nhiều người Nhật sẽ vui vẻ bắt tay thay vì cúi chào.
• Khi bạn đang đưa vật gì cho ai, đặc biệt là danh thiếp, thì cần phải đưa bằng hai tay để thể hiện sự lịch sự.
• Khi bạn uống rượu sake hay bia cùng một nhóm người thì phép lịch sự là không được tự rót cốc của bạn mà phải để người khác làm. Đặc biệt, mọi cốc phải được rót đầy trước khi uống cạn. Lịch sự hơn, phải cầm cốc bằng cả hai tay khi những người khác rót cho bạn.
• Tặng quà rất phổ biến ở Nhật. Vì là khách nên bạn có thể sẽ cảm thấy mình ngập trong các món quà và các bữa tối. Tất nhiên, khách nước ngoài sẽ đứng ngoài tục lệ tặng và nhận quà (kashi-kari) phức tạp này, nhưng đó sẽ là một cử chỉ rất đẹp nếu bạn tặng họ quà hoặc đồ lưu niệm ((omiyage), có thể là những thứ đặc sản hay biểu tượng của đất nước bạn. Khuyến khích tặng những món quà « có thể dùng được » do nhà của người Nhật khá nhỏ. Những vật như xà bông, kẹo, rượu, đồ văn phòng sẽ rất được đón nhận vì người nhận thường sẽ không cần phải trưng ra trong những lần viếng thăm sau đó. « Tặng lại quà » là một thông lệ phổ biến và được chấp nhận, ngay cả đối với những món đồ như hoa quả.
• Tỏ lòng biết ơn hơi khác một chút so với việc tặng quà. Ngay cả khi bạn đã mua một món quà để tặng chủ nhà người Nhật rồi thì khi trở về bạn vẫn nên gửi thiệp cám ơn viết tay : Hành động này sẽ được đánh giá rất cao. Những khách người Nhật luôn trao đổi những bức ảnh mà họ đã chụp cùng với chủ nhà của họ, vì thế bạn có thể sẽ nhận được vài tấm ảnh và cũng nên chuẩn bị những tấm ảnh của bạn (chụp bạn và chủ nhà) để gửi lại họ. Tùy thuộc vào độ tuổi và tính chất của mối quan hệ (kinh doanh hay cá nhân) mà bạn có thể lựa chọn việc trao đổi online hay không.
• Người già đặc biệt được kính trọng trong xã hội Nhật Bản, và họ đã quen với những đặc quyền đi kèm. Du khách đang đợi lên tàu có thể sẽ ngạc nhiên khi bị một cụ già đẩy sang một bên và dành ghế. Chú ý rằng một số ghế nhất định (« ghế bạc ») trên nhiều chuyến tàu được dành riêng cho người già và người tàn tật.
• Nếu đến thăm đền Shinto hoặc chùa, hãy tuân thủ đúng những nghi lễ tẩy trần ở chōzuya (手水舎) trước khi vào. Sau khi múc đầy nước vào muôi, hãy rửa sạch tay trái, rồi đến tay phải. Sau đó, khum tay trái và đổ đầy nước vào để rửa miệng. Không được chạm môi trực tiếp vào muôi. Cuối cùng, rửa tay trái lại lần nữa với nước còn lại trong muôi.
• Không có nhiều thùng rác nơi công cộng, vì vậy bạn có thể sẽ phải cầm theo rác một lúc mới tìm thấy một cái. Khi tìm thấy thùng rác thì thường sẽ thấy 4 đến 6 cái cạnh nhau ; Người Nhật rất có ý thức về việc tái chế. Phần lớn những hộp đựng có thể dùng lại đều được dán nhãn có biểu tượng tái chế ở Nhật và cho biết chất liệu của nó. Một số thùng rác tái chế bạn thường thấy là :
• Giấy (紙 kami)
• PET/Nhựa (ペット petto or プラ pura)
• Chai hoặc lon (ビン・カン bin, kan)
• Rác thiêu hủy (もえるゴミ moeru gomi)
• Rác không thể thiêu hủy (もえないゴミ moenai gomi)

Việc nên tránh

Người Nhật hiểu rằng khách du lịch có thể sẽ không hiểu những điều phức tạp trong phong tục Nhật Bản và thường bỏ qua những sai lầm của người nước ngoài. Tuy nhiên, có một vài những vi phạm phong tục nghiêm trọng bị mọi người lên án, ngay cả với người nước ngoài, và vì thế cần phải tránh bằng mọi cách:
• Không bao giờ được bước trên một chiếc chiếu tatami khi đang đi giày hay dép.
• Không bao giờ được để đũa của bạn cắm thẳng trong bát cơm vì đó được coi là bát cơm cho người chết.
• Không ban giờ vào bồn tắm mà chưa cọ người trước.

Một số điều khác

• Giầy (và nói chung là chân) bị người Nhật coi là bẩn thỉu. Tránh chĩa bàn chân vào bất cứ ai (ví dụ như khi đang ngồi trên tàu) và cố gắng giữ trẻ con không không để chúng dẫm lên chỗ ngồi. Chạm chân vào quần áo của ai đó, ngay cả là không cố ý, cũng là rất bất lịch sự.
• Người Nhật coi những cái vỗ lưng là bất lịch sự, đặc biệt là đối với người họ mới gặp. Ôm người khác cũng nên tránh vì nó không phổ biến ở Nhật. Đối với người Nhật, việc đó rất kì quặc và không thoải mái.
• Dùng bàn tay mở để chỉ trỏ chứ không được dùng ngón tay, và vẫy để gọi người khác thì bàn tay úp xuống, chứ không ngửa lên.
• Tránh la hét hoặc nói to tại nơi công cộng. Nói chuyện điện thoại trên tàu được coi là bất lịch sự, và rất nhiều tàu có kí hiệu khuyên bạn không dùng điện thoại. (Tuy nhiên gửi tin nhắn thì được chấp nhận).
• Xì mũi ở nơi công cộng bị coi là bất lịch sự, tương tự đối với việc ợ hơi. Bạn có thể đi loanh quanh sụt sịt cho đến khi tìm được nơi kín đáo để xì mũi.
• Cũng như ở Đức, Chiến tranh thế giới thứ II là một chủ đề nhạy cảm và phức tạp.
• Như ở Ấn Độ và Trung Quốc, biểu tượng swastika (chữ Vạn) là biểu tượng Phật Giáo thể hiện sự may mắn và không hề liên quan đến biểu tượng Đức quốc xã hay chống lại Do thái. Vì thế, khách du lịch phương Tây không nên cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn thấy một biểu tượng swastika trong các ngôi Chùa hay trong nhà của chủ nhà.

Khách du lịch đồng tính

Nhật Bản được coi là điểm đến an toàn cho những du khách đồng tính, và bạo lực chống lại người đồng tính rất hiếm. Không có luật nào cấm những người đồng giới ở Nhật, nhưng những quan hệ đồng giới không được chính phụ chấp nhận, và những cử chỉ cho thấy xu hướng đồng giới của bạn vẫn có thể thu hút những cái nhìn và huýt sáo.

Liên lạc

Bằng điện thoại

Mã số đầu quốc tế giữa các công ty là khác nhau. Kiểm tra lại với tổng đại của bạn để biết thêm chi tiết. Đối với những cuộc gọi quốc tế đến Nhật thì mã nước là 81.

Gọi khẩn cấp

Gọi khẩn cấp có thể được thực hiện miễn phí từ bất cứ điện thoại nào : bấm 110 để gọi cảnh sát và 119 để gọi cứu hỏa và cứu thương.

Điện thoại công cộng

Điện thoại công cộng (公衆電話 kōshū denwa) có thể được dễ dàng tìm thấy, đặc biệt gần các ga tàu, mặc dù với sự phổ biến của điện thoại di động, những bốt điện thoại công cộng đã không nhiều như trước kia nữa. Những điện thoại màu xanh lá và màu xám chấp nhận đồng xu ¥10 và ¥100 và thẻ trả trước. Chú ý rằng không phải điện thoại công cộng nào cũng chấp nhận đồng xu, vì thế nên mua một thẻ điện thoại để dành cho trường hợp khẩn cấp. Một số điện thoại màu xám có thể gọi quốc tế, điều này sẽ được nói rõ trên màn hình. Thẻ trả trước có thể được mua tại các cửa hàng tiện ích, các kiôt gần ga tàu và đôi khi cả ở những chiếc máy bán hàng gần bốt điện thoại. Phí điện thoại quốc tế ở các điện thoại công cộng có thể sẽ cao một cách bất thường ; một chiếc thẻ điện thoại third-party là một lựa chọn hợp lý.

Điện thoại di động

Điện thoại di động đời mới của Nhật (携帯電話 keitai denwa or just keitai) có xu hướng vận hành trên chuẩn mạng di động riêng biệt nên không phải lúc nào cũng tương thích với các nước khác trên thế giới. Ví dụ, phần lớn điện thoại 2G của Nhật đều vận hành trên Chuẩn mạng di động kỹ thuật số kĩ thuật số cá nhân (Personal Digital Cellular - PDC), được phát triển và sử dụng riêng tại Nhật Bản. Nói tóm lại :
• Phần lớn điện thoại 2G (GSM) của các nước khác trên thế giới không hoạt động được ở Nhật Bản. Ngay cả điện thoại GSM Quad-band cũng vô dụng.
• Khi công ty AU chuyển từ công nghệ CDMA sang băng tần mới 800MHz (đang được sử dùng ở các nước khác trên thế giới), những chiếc điện thoại CDMA nước ngoài (cả 2G và 3G) đều có thể sử dụng được ở Nhật để chuyển vùng. Tuy nhiên bạn phải cập nhật PRL (Prefered Roaming List – Danh sách chuyển vùng được lựa chọn) trên điện thoại của bạn, nếu không bạn không thể truy cập các trạm của AU.
• Điện thoại 3G dùng chuẩn UMTS/WCDMA2100 và được trang bị sim 3G sẽ hoạt động được.

Nếu điện thoại của bạn thỏa mãn các thông số kĩ thuật rồi, hãy kiểm tra kĩ với nhà mạng xem họ có thỏa thuận chuyển vùng với SoftBank hay NTT DoCoMo hay không. Vùng phủ sóng nói chung là cực tốt, trừ khi bạn định đi đến những vùng sâu vùng xa.

Nếu bạn không có điện thoại 3G nhưng vẫn có sim điện thoại tương thích 3G, bạn có thể thua một chiếc điện thoại 3G ở Nhật và nhét sim của bạn vào, như vậy bạn vẫn có thể dùng số cũ của mình khi ở Nhật. Có thể sẽ có vài hạn chế của nhà mạng : Ví dụ, O2-UK (hoạt động tại Nhật Bản thông qua NTT DoCoMo) yêu cầu bạn bấm *111*#, đợi một cuộc gọi lại; sau đó bấm số cần gọi để kết nối. Hãy chắc chắn là đã kiểm tra kĩ với nhà cung cấp mạng trước khi đi.

Dưới đây là các lựa chọn cho bạn:

SIM card Điện thoại Chuyển vùng SIM thuê Điện thoại thuê, số cũ trong nước Điện thoại thuê, số của Nhật
SIM GSM (a) Điện thoại GSM Không Không Không
SIM GSM (a) Điện thoại 3G/UMTS Không Không
USIM GSM/3G (b) Điện thoại GSM Không Không
USIM GSM/3G (b) Điện thoại 3G/UMTS
Không có Điện thoại CDMA (Verizon/Sprint) Giới hạn Không Không
iDEN Điện thoại iDEN (Nextel) Không Không Giới hạn

// a) Những SIM chỉ dùng công nghệ GSM được phát hành bởi những nhà cung cấp không có mạng 3G riêng. Nếu nhà mạng ở nước bạn không có mạng 3G hoặc điện thoại của bạn có từ trước khi mạng 3G ra đời, thì những SIM này dành cho bạn. Hãy gọi và hỏi nhà mạng xem liệu SIM card của họ có tương thích USIM không.

b) USIM được phát hành bởi những nhà cung cấp đã có mạng 3G hoặc đang có kế hoạch dùng mạng 3G. Những người châu Âu có SIM card sau năm 2003 đều nằm trong số này. Hãy gọi và hỏi nhà mạng của bạn xem liệu SIM card của họ có tương thích USIM không.//

Dịch vụ chuyển vùng quốc tế dữ liệu (data roaming) cũng hoạt động (cùng với các hạn chế nói trên), cho phép bạn sử dụng internet không dây trên điện thoại của mình (mặc dù có thể sẽ rất đắt !). Google Maps trên điện thoại có thể sẽ mất phí cao cắt cổ (nhưng chú ý rằng những vị trí cao thì không sử dụng được).
Đối với chuyến đi ngắn, lựa chọn tiết kiệm nhất là thuê một chiếc điện thoại. Khá nhiều công ty cung cấp dịch vụ này. Giá thuê và giá cuộc gọi cũng khác nhau, cách tính giá tốt nhất là dựa trên thời gian bạn thuê và thời gian cuộc gọi.

Cẩn thận với những quảng cáo cho thuê miễn phí bởi vì đó là một cái bẫy : thông thường khi đó phí cuộc gọi sẽ rất cao. Ở Nhật miễn phí các cuộc gọi đến.

flickr:7532535866
flickr:7532536152
flickr:7532536528
flickr:7532536820
flickr:7532537224
flickr:7532537382
flickr:7532537682

Điện thoại Nhật có một địa chỉ email nối đến số điện thoại, và hầu hết các công ty ở trên sẽ cho phép bạn gửi và nhận email. Nhà cung cấp email thường xuyên của bạn có thể sẽ yêu cầu chuyển hướng đến một địa chỉ email khác (Gmail yêu cầu như vậy), để bạn có thể nhận tất cả các email trên di động. Hãy cẩn thận các công ty có thể tính phí đối với các email gửi đến và gửi đi.

Đối với những chuyến đi dài hơn, bạn cũng có thể mua một chiếc điện thoại, nhưng để làm việc này một cách hợp pháp thì cần phải có Thẻ Đăng ký Người Nước Ngoài – Alien Registration Card (hay một người bạn Nhật tốt bụng sẵn lòng giúp đỡ bạn).
• Cách đơn giản nhất là mua một chiếc điện thoại trả trước (プリペイド). Điện thoại trả trước được bán ở hầu hết các cửa hàng SoftBank và cửa hàng Au (NTT DoCoMo không cung cấp dịch vụ điện thoại trả trước nữa). Những cửa hàng nằm ở những khu vực quan trọng của các thành phố lớn ở Nhật Bản thường có nhân viên nói Tiếng Anh để hỗ trợ người nước ngoài, nhưng vẫn phải kiểm tra trước khi đến cửa hàng. Nếu bạn đã có điện thoại 3G rồi thì đến Softbank, bởi vì nó có thể bán SIM, ngược lại với Au chỉ có dịch vụ trả trước trên điện thoại như phần lớn các nhà mạng cung cấp CDMA khác.
• Điện thoại trả trước dùng thẻ với một mật khẩu để tính tiền điện thoại theo phút. Không giống như điện thoại, những chiếc thẻ gọi trả trước này có thể tìm thấy ở hầu hết các cửa hàng tiện ích.
• Một chiếc di động trả trước được bán chỉ với giá ¥5000 cộng ¥3000 trọn gói gọi trong 60-90 ngày, gói này có thể nhanh chóng cạn kiệt với mức cước ¥100 một phút (¥10 mỗi 6 giây đối với dịch vụ trả trước của AU)
• Cả SoftBank và AU đều có điện thoại trả trước. Chi tiết về giá cả, mẫu điện thoại, thủ tục mua có thể được tìm thấy trên các website Tiếng Anh của họ. Đối với những người hay dùng tin nhắn hay email thì Softbank sẽ tốt hơn bởi họ vừa ra mắt dịch vụ mail không giới hạn, cho phép gửi mail không giới hạn và gửi tin nhắn với mức giá ¥300 một tháng.
• Một cách tiết kiệm hơn là mua một hợp đồng theo tháng, nhưng nếu vậy bạn sẽ cần chứng minh là ở dài ngày (thị thực). Bạn có thể sẽ phải trả khoảng ¥5000 mỗi tháng, bao gồm cả những cuộc gọi nhanh, nhưng giờ thì giá bắt đầu thấp hơn rồi. Sẽ phải trả phí hủy hợp đồng nếu hợp đồng bị hủy trước thời hạn.
Mã quốc gia của Nhật Bản là 81.
• Gọi điện thoại từ Việt Nam sang Nhật Bản :
00 81 + mã vùng + số thuê bao ở Nhật
Nếu mã vùng và số thuê bao bắt đầu bằng chữ số 0 thì bỏ số 0 đi rồi bấm các số tiếp theo:
Ví dụ: 00 81 3-5402-8003 ( gọi số 03-5402-8003 ở Tokyo)
00 81 90- 4831- 4723 ( gọi số di động 090- 4831- 4723)
• Gọi từ Nhật Bản về Việt Nam :
010 84 + mã vùng + số thuê bao ở Việt Nam
Ví dụ : 010 84- 4- 3934 8143 (Gọi số 3934 8143 ở Hà Nội)
010 84- 903 350.350 (Gọi số di động 0903 350 350)

Qua bưu điện

Bạn có thể gửi bưu thiếp tới bất cứ đâu trên thế giới với ¥70. Những hòm thư công cộng được tìm thấy trên khắp Nhật Bản. Chúng có hai khe, một cho thư trong nước thông thường, và cái khác là cho thư chuyển phát nhanh và ra nước ngoài.

Qua Internet

Các quán cà phê Internet (インターネットカフェ) có thể được tìm thấy ở trong hoặc xung quanh rất nhiều ga tàu. Ở đây, bạn có thể tải ảnh lên từ máy ảnh kĩ thuật số, và nếu quên mang dây cáp thì một số quán sẽ cho bạn mượn đầu đọc thẻ miễn phí. Những quán cà phê manga (漫画喫茶 manga-kissa) cũng thường có máy tính nối mạng. Khi đã quá mệt với việc lướt web, bạn có thể xem qua những quyển truyện tranh, xem TV hoặc xem phim theo yêu cầu, hoặc chơi điện tử. Giá thông thường là khoảng ¥400 một giờ, với đồ uống (không rượu) miễn phí và có khi còn nhiều hơn thế. Những nơi này thường thu phí ban đêm : khoảng ¥1500 cho 4-5 giờ vào khoảng thời gian không có tàu. Những quán cà phê Internet có thể là một nơi an toàn và giá rẻ để đến vào ban đêm nếu bạn lỡ tàu.

Một số ga tàu và sân bay lớn cũng có máy tính cho thuê để lướt web và gửi email, thường là khoảng ¥100 (tiền xu) cho 10 mon.

Một số khách sạn kinh doanh có truy cập Internet nếu bạn có máy tính riêng, thỉnh thoảng còn được miễn phí. Trong phần lớn trường hợp, internet thường được cung cấp bởi một modem VDSL được kết nối với hệ thống điện thoại khách sạn. Một số khách sạn cung cấp truy cập Internet miễn phí chưa tính đến phí thuê modem, vì thế nên kiểm tra trước khi dùng. Cài đặt giao diện hệ thống của bạn theo DHCP là tất cả những gì mà bạn cần làm để truy cập được Internet trong những trường hợp như vậy. Rất nhiều khách sạn cũng có máy tính cho thuê hoặc miễn phí dành cho khách.

Khi sử dụng máy tính nối mạng công cộng, ấn tổ hợp Alt-Shift để chuyển đổi giữa kiểu gõ tiếng Nhật và tiếng Latin. Nếu bạn chẳng may chuyển kiểu gõ hoặc nếu như người cuối cùng dùng máy để ở chế dộ này và bạn lại đang muốn gõ Tiếng Anh, bạn có thể dùng tổ hợp phím này để chuyển trở về chế độ chữ La tinh. Ngoài ra còn có một phím chuyển ngôn ngữ ở phía trên cùng bên trái của bàn phím – trên phím Tab và ở bên phải phím cách. Nếu bạn chẳng may gõ nhầm phím này thì chỉ cần ấn lại lần nữa để trở về ban đầu. Khi đánh email, chú ý rằng phím @ thường ở bên phải bàn phím, gần phím chữ « P ».

Bạn cũng có thể tìm những điểm phát wifi xung quanh các thành phố lớn ở Nhật, đặc biệt là những tòa nhà tổ hợp lớn hoặc kinh doanh liên quan đến công nghệ có hệ thống mạng không dây không đặt mật khẩu (cửa hàng Apple ở Ginza, Tokyo có kết nối chuẩn 802.11n rất nhanh và tự do).

Ở Nhật cũng có mạng không dây 3G, và nếu bạn đang sử dụng dịch vụ chuyển vùng dữ liệu quốc tế, bạn có thể chuyển vùng mà không gặp vấn đề gì. GPRS không hoạt động ở Nhật. Hãy xem các mục trên điện thoại để có thêm thông tin bao gồm cả thông tin về tính tương thích giữa điện thoại với data card. Lưu ý là những hạn chế trên điện thoại cũng áp dụng cho cả mạng 3G.

Wifi cầm tay là một lựa chọn hợp lý khác cho những ai muốn dùng thiết bị kết nối Wifi của mình (smartphone, iPhone, iPad, máy xách tay, …). Một thiết bị không dây cầm tay có kích thước như chiếc bật lửa Zippo và nằm vừa vặn trong túi áo hay túi xách của bạn. Bạn có thể kết nối wifi thiết bị của bạn tại những nơi có phủ sóng.

ĐẠI SỨ QUÁN VIỆT NAM TẠI NHẬT BẢN
• Địa chỉ : 50-11, Motoyoyogi-cho, Shibuya-ku, Tokyo 151, JAPAN
• Điện thoại: (813) 3466 3313; 3466 3314; 3466 3311
• Fax: (813) 3466 3391; 3466 7652; 3466 3312
• Email: pj.en.nco.eulb|ysabmenv#pj.en.nco.eulb|ysabmenv
• Website: http://www.vietnamembassy-japan.org

TỔNG LÃNH SỰ QUÁN VIỆT NAM TẠI OSAKA – NHẬT BẢN
• Địa chỉ: Osaka-fu, Osaka-shi, Chuo-ku, Bakuro-cho 1-4-10
Estate Bakurocho Building 10F
541-0059 Japan
• Tel: 06-6263-1600
• Fax: 06-6263-1770
• Website: http://www.vietnamconsulate-osaka.org/vi/